Giáo phận Xuân Lộc:

Qúa tŕnh h́nh thành và phát triển

 

Trong bối cảnh Giáo Hội Việt Nam

        Sau hơn một thế kỷ (1533-1659), hạt giống Tin Mừng được các nhà truyền giáo Ḍng Đaminh Bồ đào Nha và Ḍng Tên gieo văi trên quê hương đất Việt, Đức Thánh Cha Alexandrô VII đă công bố Sắc lệnh Super Cathedram Principis đề ngày 9/9/1959 thành lập hai giáo phận tông ṭa đầu tiên là Giáo phận Đàng Ngoài (Bắc Hà) vơí khoảng 80.000 tín hữu và bổ nhiệm Tân Giám mục Francois Pallu làm đại diện tông ṭa và Giáo phận Đàng Trong (Nam Hà) vơí khoảng 20.000 giáo dân được trao cho Tân Giám mục Đại diện tông ṭa Pierre Lambert de la Motte cai quản.

         Hai mươi năm sau (1679), Giáo phận Đàng Ngoài được chia làm hai thành Giáo phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội) và Đông Đàng Ngoài (Hải Pḥng). Và măi gần 200 năm sau (1844), Ṭa Thánh mới chia Giáo phận Đàng Trong thành hai giáo phận: Đông Đàng Trong (Qui Nhơn) giao cho Đức Cha Cuenot Thể đảm trách và Tây Đàng Trong (Sàig̣n) được trao cho Đức Cha Miche Mịch cai quản. Lúc bấy giờ Giáo phận Sài G̣n gồm Nam Kỳ Lục tỉnh, xứ  Cao Miên và các tỉnh phía nam Lào.

         Năm 1850, Ṭa Thánh thành lập giáo phận mới là Nam Vang, tách ra từ Giáo phận Tây Đàng Trong (Sàig̣n), và trao cho Đức Cha Mich Mịch. Năm 1924, khi tên các giáo phận không c̣n gọi theo miền hay xứ nhưng theo tên hành chính, nơi vị Giám mục có cư sở, th́ lúc bấy giờ Giáo phận Tây Đàng Trong mới chính thức đựợc gọi là Giáo phận Sàig̣n.

        Năm 1954, hiệp định Genève phân chia hai miền Nam-Bắc dựa theo vĩ tuyến 17 và gần 800.000 người công giáo di cư từ Bắc vào Nam. Phần rất đông đă tập họp về vùng đất màu mỡ của Đồng Nai và Bàrịa -Vũng Tàu,  tạo nên các xứ đạo toàn ṭng Công giáo như các khu vực Hố nai, Tam Hiệp, Gia Kiệm, Phương Lâm, B́nh Giả, Long Hương, Bàrịa, Vũng Tàu. Số giáo dân tăng từ  8.000 đến 160.000 người.

         Ngày 24/11/1960 là điểm mốc quan trọng nhất của lịch sử Giáo hội Việt Nam khẳng định sự tiến triển và trưởng thành của Giáo Hội công giáo Việt Nam: Ṭa Thánh thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam phân chia thành ba giáo tỉnh: Hànội, Huế và Sài g̣n;  đồng thời phia chia Giáo phận Sàig̣n thành ba: Sàig̣n, ĐàLạt và Mỹ Tho.

  

      Và ngày 14/10/1965, Đức Phaolô VI đă thành lập  hai giáo phận mới tách ra từ Giáo phận Sàig̣n; đó là Phú Cường và Xuân Lộc. Giáo phận Xuân Lộc lúc bấy giờ bao gồm ba tỉnh Biên Ḥa, Long Khánh và Phước Tuy. Toà Giám mục được đặt tại Xuân Lộc.

Xuân Lộc và các nét sinh hoạt tôn giáo trước khi được thành lập

           Trước khi chính thức trở thành một giáo phận, tại địa bàn của Giáo phận Xuân Lộc đă hiện diện nhiều xứ đạo cổ xưa như: Đất Đỏ, Bà Rịa, Vũng Tàu (thuộc tỉnh Bà Riạ Vũng Tàu ngày nay) và sáu giáo xứ chung quanh Biên Ḥa như: Biên Ḥa, Mỹ hội, Phước Lư, Phước Khánh, Bến Gỗ, Dầu Giây (thuộc tỉnh Đồng Nai ngày nay) với 8.033 giáo hữu.Kể từ khi chính thức trở thành giáo phận, Xuân Lộc có số giáo dân tăng 160.000. Giáo phận Xuân lộc co nguồn gốc lịch sử khá lâu đời và đă trải qua một quá tŕnh h́nh thành lâu dài hơn trăm năm.

Vùng đất Đồng Nai

Từ Mô Xoài-Bà Rịa, các thế hệ người Việt di dân với phương tiện chủ yếu là thuyền xuồng ngược ḍng Đồng Nai và cả đi bộ dọc theo sông tiến dần vào Đồng Nai. Các điểm định cư sớm nhất của họ là Nhơn Trạch, Long Thành, An Ḥa, Bến Gỗ, Bầu Lâm, Cù Lao Phố, Cù Lao Tân Chánh, Cù Lao Ngô, Cù Lao Kinh, Cù lao Tân Triều.

Các vùng ven núi cũng là nơi lưu dân Việt chọn làm nơi ở, bởi các nơi đó có điều kiện khai thác các nguồn lợi lâm sản như săn bắn, khai thác gỗ... Tiến tŕnh nhập cư của lưu dân người Việt vào đất Đồng Nai đă diễn ra liên tục trong suốt gần một thế kỷ. Năm1698 dưới sự bảo trợ của Chúa Nguyễn số người Việt từ miền Trung di dân vào Đồng Nai ngày càng đông. Năm1790, Nguyễn Ánh ra lệnh lập đồn điền, mộ dân khẩn hoang lập ấp. Chính việc mở rộng khai phá bằng nhiều h́nh thức  đă tạo điều kiện để dân cư phát triển ở vùng Biên Ḥa.

 Đầu thế kỷ XX, các công ty đồn điền cao su Đồng nai được thành lập. Họ đă chiêu mộ công nhân từ các làng quê miền Bắc và miền Trung, khiến vùng đất này cũng ngày càng đông dân và phát triển.