Trang chủ

Mục lục

Đất Mới  

ĐẤT MỚI

Tác giả: Song Nguyễn

 Tác phẩm của Tác giả Song Nguyễn
 

Người mục tử quyết sống chết với đoàn chiên tại vùng
“đất mới”
(Tác giả)

 

TẬP I

CHƯƠNG VIII

Mãi đến hai ngày sau, mới có xe chở cha đi. Có lẽ nhờ mấy viên thuốc mà cha khá hơn một chút, đã húp được một chút cháo. Tuy nhiên, vẫn còn trong tình trạng nguy kịch.

Trưởng Tuất muốn theo xe để đi với cha, lỡ dọc đường có chuyện gì; nhưng nhân viên không cho, lấy lý do xe chật. Ông đành phải ở lại. Đàng khác, ông cũng muốn chạy về nhà báo tin cho ở nhà biết, cha đã được chuyển đi bệnh viện Tỉnh rồi.

Nhìn chiếc xe lăn bánh chở cha đi, tự nhiên cơn xúc động dâng lên, Trưởng Tuất cảm thấy mặt nóng ran, hai mắt như mờ đi. Ông chớp mắt để ngăn giọt nước mắt chực chờ ứa ra. Ông linh cảm thấy có một cái gì rủi ro, đau khổ đang chờ đón cha, mà ông không thể làm gì được. Chợt nhớ đến hôm cô Mai Linh xuống gặp cha, mà sau này cha kể lại… - Giá hôm đó, cha nhận đi đại với gia đình cô ta, thì giờ này cha đã ở phương trời xa, chứ đâu còn phải khổ thế này. Chỉ vì!!!

Vâng, chỉ vì!!! Ngồi trên xe trở về nhà, Trưởng Tuất chẳng còn để ý gì chung quanh nữa, ông cảm thấy chóng mặt và mệt mỏi. Đầu óc ông tràn ngập suy nghĩ về cha. Ông thấy sức khoẻ của cha lần này xuống quá, rất có thể… Ông cố gắng xua đuổi ý tưởng hắc ám đó đi, nhưng chỉ được giây lát rồi nó lại đến, nhất là ông nhớ đến câu cha nói với ông trước khi được đưa lên xe: “Không chắc tôi còn có thể trở về giáo xứ được nữa! Không, tôi cảm thấy tôi mệt quá rồi. Nếu tôi không…”. Trưởng Tuất đã phải gạt phứt câu cha đang định nói đi. Ông trả lời với cha: nhất định cha sẽ trở về với giáo xứ. Ông lo lắng, cho đó như một câu nói gở. Ông liên kết lời nói đó của cha với câu nói trước đây của bà Năm Mừng. Trước khi bà chết, bà cũng đã nói với ông: “Chắc kỳ này tôi sẽ chết, ông Trưởng ạ! Tôi cảm thấy tôi yếu lắm rồi, xin ông Trưởng trình với cha và xin giáo xứ giúp đỡ mấy đứa nhỏ của tôi…”. Thế rồi không đầy một tuần sau, bà ấy chết thật. Ngoài ra, ông còn nghe người ta nói nhiều như vậy lắm…, nước mắt ông ứa ra. Ông thương cha quá. Đời ông, ông đã được ở với nhiều cha rồi, nhưng ông chưa thấy ai tận tuỵ, hy sinh như cha. Hy sinh, quảng đại, lại rất bình dân, không có gì cao kỳ, ở với ai cũng được.

Đối lại, giáo xứ nói chung và ngay bản thân ông, cũng chưa đền đáp gì cho cha nhiều, chẳng khác gì cách đối xử của con đối với công ơn cha mẹ. Thế mà lúc này đây, chính là lúc có thể phần nào báo đền được, mà hầu như ông lại bất lực. Ông cố mường tượng tình trạng của cha lúc này, cha đang nằm trên xe cô quạnh một mình, không một người quen thuộc đỡ nâng, lúc lên xuống hay trở mình xoay sở. Rồi ở phòng nhận bệnh, phòng khám bệnh, ai sẽ là thân nhân? Cha có gặp trường hợp khó chịu như mấy lần ở dưới bệnh viện nhà không? Có gặp người ác cảm như cô… A! Không, cô ấy tốt, nhưng không! Thái độ cô lúc ban đầu... Hay cô gặp viên y sĩ như… và vân vân. Rồi cha có phải nằm chung giường, chiếu với những người khó tính, ghẻ lở như ở dưới này không? Và mấy ngày không có ông, ai săn sóc cho cha: “Ông cho tôi miếng nước… cho tôi xin thêm chén nữa… tôi khát”. Ông lắc đầu thở dài. Nếu cha lại bị gãy kim một lần nữa thì… ông lại thở dài.

Mấy người ngồi chung xe thấy ông buồn bã trầm tư và luôn thở dài, họ cho là ông đang có điều gì dằn vặt, nhất là khi thấy trời mưa lớn, hắt ướt cả đồ trong xe, mà cứ thấy ông không động tĩnh gì, nên càng cho là ông đang có điều gì bối rối lắm. Có người cố gợi chuyện để ông có hé môi không, nhưng đều thất vọng, ông vẫn lầm lì. Đàng khác, ông muốn xa tránh mọi người, để sống trong ưu tư của riêng ông.

Nhưng rồi chiếc xe lam chở ông về giáo xứ đang ngon trớn, bỗng lảo đảo, chưa ai kịp phản ứng gì, nó đã đâm lao xuống ruộng và lộn hai ba vòng, giơ ba bánh lên trời. Tài xế cũng như hành khách trên xe, văng mỗi người mỗi nơi. Sau giây phút bàng hoàng đó, người ta bắt đầu kêu la inh ỏi: Trời ơi!! Cứu tôi với, ai ơi!!

Mưa mỗi lúc mỗi lớn hơn, y như người ta đang mở vòi cho nước chảy vậy, át cả tiếng kêu la. Những nạn nhân chẳng còn hy vọng ai khác đến cứu; hơn nữa, ở giữa khoảng trống này, có ai mà đến, nên chỉ còn nạn nhân cứu nạn nhân thôi. Mấy người bị nhẹ lóp ngóp bò dậy được, ra tay cứu những người bị nặng. May mà không ai chết cả. Trưởng Tuất và một người đàn bà khác nữa, có lẽ là hai người bị nặng nhất. Trưởng Tuất bị xé rách một miếng dài ở ống chân trái, máu me chảy ra đỏ lòm. Người ta vực được ông lên bờ rồi, túm vào băng rịt cho ông. Khổ một nỗi giữa đường, chẳng ai có thuốc men gì, may mà có người hút thuốc rê, người ta bèn lấy cả gói thuốc đắp vào vết thương của Trưởng Tuất, rồi lấy khăn tay bó đỡ cho ông.

Nhưng khổ nhất là trời mưa không thể ngồi mãi đây được, quãng đường từ đây về đến nhà Trưởng Tuất còn xa, trong khi vết thương khá nặng. Trưởng Tuất không thể đi mà không có người giúp đỡ. Trước hoàn cảnh khó khăn đó, người đàn ông vừa cho gói thuốc rê bằng lòng dìu Trưởng Tuất về nhà.

Sau thời gian nhức nhối ban đầu, Trưởng Tuất đã có thể chậm chậm bước đi được, chỉ trừ những lúc gặp quãng đường trơn trượt hoặc sình lầy quá, Trưởng Tuất mới cần đến sự giúp đỡ của người bạn đường miễn cưỡng.

Trưởng Tuất chưa về đến nhà thì ở gia đình đã biết tin do một người làm rẫy ở gần ấp phi báo. Thoả đang làm rẫy, hay tin bố vợ bị nạn, hốt hoảng chạy về nhà báo tin, rồi để nguyên bộ đồ đi rẫy, nó phóng ra đường để hay hư thực. Thu đang nấu dọn, nghe chồng nói cũng bỏ cả việc chạy ù ra, chẳng nón mũ gì, mặc dầu trời hãy còn lất phất mưa. Thỏa tới trước, Thu tới sau, nhìn thấy ông Trưởng trong bộ dạng thật tội nghiệp. Hai vợ chồng cuống quýt, hết hỏi han lại cúi xuống thăm xem vết thương của ông. Ông Trưởng mệt mỏi trả lời nhát gừng:

-          Xe lật.

Người đi với Trưởng Tuất thêm:

-          Chiếc xe lam chở chúng tôi bị lật ở dốc cầu gỗ.

-          Mãi dốc cầu gỗ cơ à, bác! Có ai sao không, bác?

Người đàn ông khoác tay ra hiệu, miệng nói:

-          Không! Không ai chết, chỉ có bác đây là bị nặng nhất.

Bà Trưởng Tuất cũng lặn lội ra tới nơi, vừa thấy ông, bà chưa kịp hỏi gì đã oà lên khóc, vừa khóc bà vừa than:

-          Trời ơi! Khổ tôi quá, trời ơi! Ông có sao không? Ba con có sao không, Thu? Trời ơi, ông ơi!

Thu đang bồn chồn nghe thuật tai nạn, thấy má khóc, cô cũng khóc theo.

Nhìn thấy vợ ra đón, lòng ông nhẹ lại, nhưng thấy đứng giữa đường giữa xá mà khóc lóc, trời lại lâm râm mưa, nên ông Trưởng giục:

-          Có chi đâu mà khóc. Thôi về nhà đã nào.

Miệng thì giục vậy, nhưng tự nhiên bây giờ Trưởng Tuất thấy vết thương nhức buốt quá, không hiểu vì vết thương dừng máu vì đứng lại, hay vì gặp người nhà mà nó đau hơn, Trưởng Tuất không bước đi được nữa, đến nỗi người đàn ông và Thoả, mỗi người đỡ một bên để dìu Trưởng Tuất đi. Bà Trưởng Tuất lê rê xách cái tay nải theo sau, còn Thu thì về trước lo dọn dẹp để đón ông Trưởng.

Đưa ông Trưởng về nhà rồi, người đàn ông xin kiếu từ, nhưng Thoả cố giữ ông lại để hỏi thăm về tai nạn. Người đàn ông thuật lại chi tiết cho nghe và kết luận: “Số ông nhà đây hôm nay thật xui”.

Về tới nhà ông Trưởng nằm vật ra chõng, mặc dù quần áo ông còn ướt sũng. Thu nhắc ba:

-          Ba cố nhỏm dậy lau mình thay đồ đi đã, kẻo nước mưa nhiễm vào.

Bà Trưởng hỏi vội Thu:

-          Ấm nước con đã bỏ trà chưa?

-          Dạ chưa.

-          Con lấy chế thêm nước lạnh cho ba con lau mình.

Bà quay vào ông nói:

-    Ông dậy, con nó lấy nước cho lau mình thay đồ đi đã, mình mẩy ông lấm láp quá đi thôi.

Trưởng Tuất ngần ngừ mãi, mới chịu ngồi dậy đi thay đồ. Ông vịn vai Thoả xuống nhà dưới. Bà Trưởng lật đật chạy theo, trao cho Thoả bộ đồ của ông Trưởng, bà nói:

-          Bộ đồ của ba mày đây.

Trưởng Tuất thay đồ xong, lại vịn vai Thoả lên nhà. Bà Trưởng cũng vừa thay xong cái chiếu ướt. Ông vừa ngồi xuống, bà lo lắng hỏi ông:

-          Ông để con nó thay thuốc cho.

Ông Trưởng thấy vợ con lo lắng cũng thuận. Ông ngồi yên để đợi con rể thay thuốc cho ông, vì cái khăn buộc vết thương ướt quá rồi. Còn bà, miệng nói với ông như vậy, nhưng khi ông đợi thay thuốc, bà luống cuống không biết phải thay thuốc gì và lấy gì buộc vết thương. Chạy lại ban y tế ấp, chắc giờ này họ đã đóng cửa, bà gọi Thoả:

-          Anh Thoả xuống đây má nói này!

Thoả theo mẹ vợ xuống nhà. Bà nói nhỏ với Thoả:

-          Lấy gì băng cho ba mày được.

Thoả suy nghĩ cố moi óc món thuốc gì hay nhất để băng cho bố vợ. Phải khổ công lắm Thỏa mới sực nhớ ra phương thuốc, Thoả vẫn áp dụng mỗi khi bị thương tích. Thoả reo lên:

-          A! Được, con có món thuốc này hay lắm.

Thoả vụt chạy ra vườn hái một nắm lá sống đời cho vào cối giã cua, giã nhỏ trộn thêm mấy hạt muối. Giã xong rồi, nhưng Thoả còn băn khoăn lấy gì mà buộc vết thương cho ba. Thoả hỏi vợ:

-          Em có gì buộc vết thương cho ba không?

Thu suy nghĩ một lát rồi trả lời chồng: - Anh lấy đại miếng vải em định may tã cho con này.

Thoả đưa “thuốc và băng” lên thay cho ba. Thoả vừa thay băng cho ông Trưởng Tuất vừa trấn an:

-          Ba băng thuốc này nhất định là êm ạ.

Đêm hôm đó, Trưởng Tuất bị cảm nặng. Ông lên cơn sốt, người nóng hừng hực như cục than. Trong khi mê sảng, ông luôn luôn nhắc đến cha. Nhiều lúc ông mê man như người mất trí, ông chảy nước mắt như cha chết thật. Lúc khác, ông lại nói nhăng, nói cuội như cha đã xuất ngoại và đang hoạt động tông đồ trong một nơi nào đó, có ông cùng làm với cha.

Gia đình, rồi bà con lối xóm vừa lo cho ông vừa lo cho cha. Hỏi thăm tin tức về cha, ông thở dài hơn là trả lời. Đại khái, chỉ biết được là người ta đã chở cha đi nhà thương Tỉnh vì bệnh cha nặng, không thể để ở bệnh viện nhà được.

Hội đồng giáo xứ bàn bạc với nhau tìm giải pháp. Sau cùng, họ quyết định để cho ông già Hoà lên nhà thương săn sóc cha cho đến khi ông Trưởng khá.

Được lệnh đi săn sóc cha, già Hoà chịu lắm. Ông vốn quý trọng và thương cha. Chẳng những cha không chấp gì ông, dù ông có tật xấu hay lè nhè, trái lại, còn thông cảm với ông. Cha bảo chắc vì hoàn cảnh nào đó khiến ông rơi vào tật xấu này.

Xe chuyển cha Phương Toàn đến nhà thương Tỉnh đã được hơn hai ngày rồi, mãi đến chiều ngày thứ ba già Hoà mới lên tới nơi. Vì là lần đầu bước tới nhà thương, nên đối với ông, cái gì cũng lạ, cứ mỗi bước ông mỗi phải hỏi. Đã vậy, do không hiểu rõ sinh hoạt ở đây, nên khi hỏi thăm, ông cứ một tiếng “cha tôi đâu”, hai tiếng “cha tôi” nằm đâu. Người thì tưởng là ông già của ông, thương hại hỏi ông xem cha ông đau bệnh gì, bao nhiêu tuổi; người thì ái ngại vì thấy ông từng đó tuổi mà còn đích thân đi thăm nuôi cha mình. Đến khi ông đính chính và kể là cha xứ của ông, người ta đều trố mắt nhìn ông mà chẳng hiểu gì. Có người chỉnh ông: “Cha với cụ gì ở đây”. Ông già Hoà sùng lắm, muốn cãi lại, nhưng ông đã dần cảm thấy ông đang ở một chỗ không nên nổi sùng. Ông thay đổi cách xưng hô: anh cho tôi hỏi thăm…, cô cho tôi hỏi thăm… ông Nguyễn… Sau cùng, ông được một người thương hại tuổi già, tận tình hướng dẫn ông. Ông được đưa ngược lại phòng trực, mà hồi nãy ông đã bị chỉnh vì tiếng “cha tôi”. Ông ngần ngại trở lại, nhưng người hướng dẫn cầm tay ông dẫn đi, nên ông đành bước theo. Anh y tá ngồi ở phòng trực nhìn ông, nét mặt thay đổi, anh sẵn sàng để “dạy” cho ông một lần nữa, về những tư tưởng “lạc hậu” còn bám ở đầu óc ông. Nhưng anh ta chưa kịp thực hiện, thì người hướng dẫn ông lại gần vỗ vai nói nhỏ gì với anh đó, anh mới dịu lại. Anh hỏi ông già Hoà:

-          Ông tìm ai?

-          Dạ! Thưa thầy, tôi...

-          Yêu cầu ông, không có thầy cô gì ở đây nhá.

Người hướng dẫn vỗ vai ông già, ôn tồn nói:

-          Ông già cứ cho biết ông cần tìm ai. Mà ông già tìm ai?

Ông già Hoà gật đầu, tỏ vẻ cám ơn người hướng dẫn. Ông quay nhìn anh và nói:

-          Tôi muốn tìm ông Nguyễn Phương Toàn.

Người hướng dẫn nhắc lại cho anh y tá trực, rồi lại quay hỏi ông già Hoà:

-          Ông ấy bao nhiêu tuổi? Vào đây ngày nào? Bệnh gì? Ở đâu đưa đến?

-          Dạ! Tuổi thì tôi không nhớ rõ, vào khoảng gần bốn mươi, đưa vào đây hôm kia, sốt rét rừng, từ nhà đưa tới.

Người y tá trực cầm cuốn sổ ghi bệnh, nhìn lại ông già Hoà một lần nữa, rồi mới mở sổ tìm. Trong khi anh mở sổ tìm, thì người hướng dẫn vỗ vai anh y tá và rút lui vì có công tác. Đi qua ông già Hoà, anh cúi đầu chào và an ủi ông:

-          Ông già ở lại, đợi anh tìm sổ đã.

Lục lọi một hồi rồi, anh ngẩng đầu lên thở dài nói:

-          Ông ấy xuất viện rồi.

Nghe anh nói, ông già Hoà chau mày, sửng sốt hỏi lại:

-          Sao? Ông ấy sao?

Người y tá lặp lại câu nói với giọng lớn hơn:

-          Tôi nói là ông ấy xuất viện rồi!

Ông già Hoà sửng sốt. Ông hoàn toàn không hiểu gì hết. Mới mấy bữa nay cha còn mê man, bất tỉnh, không ăn uống gì. Rồi khi ông Trưởng Tuất đi coi săn sóc cha trở về, cũng nói rằng cha bệnh nặng đến nỗi phải đưa đi nhà thương Tỉnh. Thế mà cách nay mới có ba bữa, cha lại đã xuất viện rồi sao? Ông già Hoà đứng chôn chân trước bàn giấy của người y tá trực. Ông muốn biết thêm, nhưng sợ người y tá la, nên ông còn đứng phân vân. Người y tá nói với ông:

-          Thôi xong rồi, ông về đi.

Ông già Hoà miễn cưỡng bước ra ngoài, lòng vô cùng bối rối. Những câu hỏi dồn dập đến trong đầu: sao lại kỳ vậy? Không lẽ có một phép lạ? Vậy cha đang ở đâu? Ông không thể nào về được khi chưa thấy một tia sáng nào. Bất chợt ông nghĩ ra, hay là người y tá tìm nhầm tên chăng? Suy nghĩ một hồi, rồi ông dừng lại ở điều dự đoán đó: người y tá lầm, nhưng làm sao mà trở lại để hỏi được? Ông thầm cầu mong gặp được người hướng dẫn “ân nhân” lúc nãy. Nhưng làm sao tìm được ông ta? Ông già Hoà đành ngồi lại ở cổng để cầu may. Ông hy vọng hết buổi, người y tá về ăn cơm, ông sẽ gặp.

Chờ mãi đến một giờ trưa cũng chẳng thấy người hướng dẫn “ân nhân” đâu cả. Hỏi ra ông mới biết, theo tổ chức mới, tất cả các nhân viên, từ bác sĩ đến nhân viên đều ăn cơm tập thể, nên không có ai về nhà. Ông già Hoà đành đợi đến giờ làm việc. Đến giờ làm việc, ông lại ngồi cầu may. Mãi đến chiều, ông vẫn chẳng thấy bóng người hướng dẫn “ân nhân” của ông đâu cả. Ông đánh bạo trở lại phòng trực. Ông len lén nhìn vào phòng trực, thấy người ngồi bàn không phải là người hồi sáng này, ông già Hoà mừng thầm. Ông thấy phấn khởi hơn, mạnh mẽ bước vào phòng trực. Tuy nhiên, khi hỏi thăm người y tá, giọng ông vẫn run. Ông nói:

-          Xin ông! Ơ! Xin anh cho tôi hỏi thăm.

Người y tá ngẩng đầu lên, nhìn ông ra hiệu cho ông đợi một lát. Thấy nét mặt và cử chỉ của người y tá, ông hơi mừng. Ông hy vọng sẽ nói hết những thắc mắc của ông. Người y tá ghi chép xong, tay còn đang cầm bút đặt trên cuốn sổ, hỏi ông:

-          Chú muốn hỏi gì?

Ông già Hoà cảm động vì danh xưng ông vừa mới nghe. Có lẽ ông ít được đến bàn giấy, nên ông chưa làm quen với từ “chú”. Thế nhưng, ông không biết cải chính làm sao được. Ông ngập ngừng một lát rồi nói:

-          Xin ông - người y tá nhìn ông mỉm cười vì anh mới chừng 23, 24 tuổi. Tuy nhiên, anh hiểu ông già nhà quê, nên để mặc - coi lại sổ xem có lộn ông Nguyễn Phương Toàn không?

-          Sao! Chú nói sao? Sao lại lẫn ông Nguyễn Phương Toàn là thế nào?

Ông già Hoà bị hỏi dồn dập, mới sực tỉnh ra người đang nói với ông không phải là người sáng ngày. Ông mới gãi đầu nói:

-          Tôi xin lỗi. Tôi lộn.

Người y tá tròn mắt, mỉm cười nhìn ông khuyến khích, ông yên trí để nói. Ông già Hoà bình tĩnh hơn, ông nói tiếp:

-          Sáng này, anh y tá trực ở đây cho tôi biết là ông Nguyễn Phương Toàn xuất viện rồi. Anh làm ơn coi lại xem có lầm tên không?

Người y tá gật đầu, dò lại sổ rồi ôn tồn nói với ông già:

-          Anh nói đúng, không lộn tên đâu. Tôi biết rõ ông ấy mà!

Ông già Hoà mở to mắt, chăm chú nhìn người y tá như muốn hối thúc. Ông hỏi lại người y tá:

-          Mà sao kỳ lạ vậy?

-          Thế chú là gì của ông Toàn.

-          Tôi là người nhà.

-          Chú với ông Toàn, họ hàng làm sao?

-          Tôi là người giúp việc cho ông Toàn.

Người y tá tròn mắt nhìn ông, chau mày suy nghĩ có vẻ thắc mắc, không bằng lòng, nên hỏi lại ông già Hoà:

-          Ông Toàn làm cái gì mà bắt ông giúp.

Giờ ông già Hoà gãi đầu gãi tai, biết là mình nói không hợp thời, nên sửa lại:

-          Ông ấy với tôi cùng ở một hộ, cùng ăn cùng làm…

-          A! Vậy thì thế này...

          Người y tá nhìn ông già nói tiếp: - Chiều hôm qua có người đến đây xưng là anh ruột của ông Toàn, nói là mới nhận được tin ông Toàn bị đau nặng, sợ không sống, nên bảo lãnh về nhà săn sóc, và để nếu có chết thì được chết ở gia đình.

Ông già Hoà chưa hết ngạc nhiên, hỏi lại:

-          Sao lại lạ vậy nhỉ? Ông Toàn làm gì có anh ruột? Hồi thuở đến giờ ông có nghe thấy nhắc đến bao giờ đâu?

Người y tá giải thích cho ông già Hòa:

-          Chú yên trí đi, tôi lo vụ này mà. Ông anh đó người vừa phải, tóc hơi quăn, mang kiếng cận.

Người y tá chỉ hai ba tờ giấy kẹp theo trong sổ, nói tiếp:

-          Đây này! Giấy bảo lãnh, giấy giới thiệu, còn đầy đủ đây này.

Ông già Hoà thấy không còn có thể hỏi gì thêm được nữa, ông chán nản bỏ phòng trực đi ra, quên cả chào người y tá. Ông lang thang ra ngã ba đón xe về huyện. Ông vẫy tay xin đi, nhưng chẳng có xe nào chịu dừng cả, mặc dầu có nhiều xe còn trống chỗ, chỉ vì ông “bình thường” và chẳng có đồ đạc gì cả. Xe lúc này không ưa chở người “vô điều kiện”. Hơn nữa, không phải chỉ xe cộ không thèm để ý đến ông, mà cả người qua kẻ lại cũng coi như không cần để ý đến ông.

Ông đến chỗ ngã ba đường, chỗ đông người qua lại, xa lạ như đứng trước cánh rừng, mãi đến tối ông đành phải rời ngã ba đến kiếm một chỗ qua đêm. May mắn khi trở lại bến xe, ông gặp được một người “bạn đường tốt”. Người bạn đường thấy ông ngơ ngác, đã đoán biết ông là ai, từ đâu tới, nên anh ta theo sát. Săn sóc, hỏi han và tìm chỗ ngủ cho ông. Mặc dù chỗ ngủ chẳng phải là khách sạn hay một căn nhà nào, mà là vỉa hè ngay sát bến xe, để sáng mai dành chỗ về sớm. Ông già Hoà nghe thuận tai, nhất là thấy người bạn đường tuy cũng bơ vơ nghèo khó như ông, nhưng lại giàu lòng “bác ái”.

Tối hôm đó, ông già Hoà lại được người bạn đường đãi ông một khúc bánh mì nhân thịt. Ông già suýt xoa cảm động đòi đưa tiền trả, nhưng người bạn đường tốt cứ một mực từ chối. Ăn xong, không biết người bạn kiếm được ở đâu mà bê ngay về hai chiếc chiếu cũ. Thế là hai người bạn đường cũng giống như hàng chục người khác, nằm ngủ dưới trời sao.

Bầu trời đêm nay thật lý tưởng, không khí êm dịu sau những ngày bão gió. Trăng sao thi nhau lấp lánh trên vòm trời và đổ ánh sáng xuống trái đất như để đền bù mấy ngày bị che khuất. Ông già Hoà nằm ngửa mặt lên trời ngắm sao và cố tưởng tượng xem ngôi sao của ông là ngôi sao nào. Ông ôn lại quá trình đời ông, ông lắc đầu, thở dài. Ông nhìn một ngôi sao thật xa, hơi mờ mờ sáng. Ông ghép ông vào ngôi sao đó vì đời ông đa đoan quá, bảy nổi ba chìm, mồ côi cả vợ lẫn con, và bây giờ có lẽ… Ông xua đuổi ý tưởng ấy.

Ông bỏ ngôi sao của ông để tìm ngôi sao của cha. Cha thì phải là ngôi sao phải vừa to vừa sáng, nghĩa là phải sáng gấp nghìn lần sao của ông, của hết mọi người. Nhưng rồi ông chép miệng tự nhủ: ừ, nhưng sao hồi này thấy cha gặp hạn luôn, mà tai hoạ lớn nhất, chắc là cơn bệnh sốt rét này.

Ông quay sang định tâm sự với người bạn đường nằm bên cạnh ông về việc cha xuất viện đột xuất quá, nhưng người bạn đường của ông đã ngủ từ bao giờ. Ông tần ngần suy nghĩ một lát nữa, rồi vì mệt nhọc sau một ngày đi tìm cha, ông cũng ngủ luôn.

Mãi tới gần sáng, khi sương mai làm cho ông thấy lạnh, ông mới giật mình tỉnh lại. Ông quay sang bên cạnh người bạn đường của ông, không thấy đâu nữa. Ông giơ tay quơ xung quanh, cái chiếu cũng không thấy đâu. Ông tính lên tiếng gọi, nhưng ông kịp đoán là người bạn đường của ông đi việc cần, ông nằm lại để đợi.

Chung quanh ông thấy có người dậy, đang lục xục, có lẽ chuẩn bị ra xếp hàng mua vé xe chăng? Nghĩ tới người bạn đường, ông lại đoán: không lẽ anh ta ra mua vé sớm như vậy? Ông ngồi dậy để banh mắt ngó về phía đàng trước, xem có thấy anh ta trở lại không? Gần sáng cũng không thấy anh ta, ông đang sốt ruột chờ đợi, thì có người đàn bà lại gần ông. Ông hơi mừng vì có người để ông hỏi han. Người đàn bà lại gần ông. Ông ngồi lui vào, định mời bà ta ngồi đến nói chuyện. Người đàn bà với nét mặt thô cứng, đứng trước mặt ông, giọng ngái ngủ, bà nói:

-          Ông cho lại tôi cái chiếu và trả tiền thuê.

Ông già Hoà khá bất ngờ trước việc này. Ông cãi:

-          Tôi đâu có mượn bà, chiếc chiếu này của ông bạn tôi mà.

Người đàn bà chẳng thèm để ý tới lời phân trần của ông, bà ta sừng sổ:

-          Ơ! Cái ông già này! Hôm qua người thanh niên đến thuê chiếu nói là thuê cho ông, bây giờ ông định giở giọng.

          Bà ta la lớn hơn:

 -  Ông đừng có giở giọng, ông không qua được với gái này đâu.

Ông già Hoà đâm hoảng:

-          Tôi đâu có nhờ ai thuê bao giờ đâu. Anh ấy…

Người đàn bà không để cho ông nói hết lời, xấn đến trước mặt ông la:

-          Ông có trả hay không nói đi!

Rồi bà ta quay ra than:

-  Trời đất quỷ thần ơi, sáng sớm mà đã gặp cái thứ già khui này, thì ngày nay làm sao mà khá được.

Thấy không xong, già Hoà đứng dậy bước ra khỏi chiếu. Người đàn bà vội lấy cái chiếu đập thùm thụp xuống đất, miệng nói:

-          Chiếc chiếu này bao giờ mới hết hơi mấy người.

Ôm cái chiếu, bà ta đứng chắn trước mặt già Hoà:

-          Ông cho tôi xin tiền thuê.

Ông già Hoà lại ấp úng.

Người đàn bà như đã quá quen với cái thói xù tiền thuê của mấy người trước đây bà hay gặp. A, lão này định quỵt tiền thuê chiếu, bà sẽ chẳng để thoát đâu. Đàng khác, bà cũng cần phải đàn áp lão già để bắt nạt và làm gương cho những người thuê khác. Bà ta sừng sỗ, chửi át ông già Hoà đi.

Ông già Hoà vốn sợ đàn bà, nhất là khi đàn bà nổi giận vì ông đã quá kinh nghiệm với bà xã ông. Ông lặng thinh thọc tay vào túi móc tiền để trả cho xong. Ông sờ soạng hết túi trên đến túi dưới, rồi hốt hoảng kêu lên:

          -    Chết cha rồi! Thôi... nó... Trời ơi, nó lấy của tôi rồi.

Người đàn bà đứng bên, chẳng những không thông cảm lại còn la lối. Ông già Hoà cuống lên, nhớ đến túi quần áo của ông, ông ngó lui ngó tới cũng không thấy đâu. Ông lại kêu:

-          Trời ơi, nó lấy cả đồ của tôi rồi.

Thấy tình cảnh của ông già, người đàn bà chẳng những không tội nghiệp lại còn la to hơn nữa. Ông già Hoà cuống lên, không còn biết xoay sở làm sao, ông xuống nước năn nỉ:

-          Xin bà thương, tôi mất hết rồi!

Người đàn bà, mắt lườm lườm không tin, bà ta vẫn khăng khăng là ông già tính ăn quỵt của bà ta, mặc dù giá thuê cái chiếu một tối chỉ là năm mươi xu. Bà ta săm soi nhìn quanh ông già, rồi bà ta phán:

-          Không có tiền thì đưa đôi dép đây, không gạt tôi được.

Nhìn nét mặt dữ tợn muốn ăn thua đủ của bà, ông già Hoà biết không thể làm gì khác hơn nữa, đnh lột đôi dép đưa bà ta cho xong. Đã vậy mà khi cầm đôi dép, bà ta còn rủa ông một hồi giã từ nữa, rồi mới đi.

Già Hoà mới sáng sớm đã bị một vố đại xui, nhưng còn một điều quan trọng nữa là phải trở về giáo xứ bằng mọi giá để báo tin cho mọi người biết là cha không còn nằm nhà thương nữa. Ông già Hoà luẩn quẩn ở bến xe, cầu may có gặp người nào quen để cậy nhờ. Chẳng hiểu sao hôm nay không gặp một người quen nào. Tình thế của ông thật ngặt nghèo. Ông vừa giận, vừa đói, vừa túng. Nhìn lại mình, chẳng còn gì để bán cả. Ông bối rối quá, đánh liều đi ăn xin. Nhưng xin ăn cũng phải biết cách, lúng túng ậm ự như ông, chẳng ai cho. Ông còn bị mắng nữa. Người ta xỉ vả ông: Thời buổi này mà còn kẻ ăn bám. Không đi lao động lại còn đi xin, sức dài vai rộng, đồ làm biếng, cho đi cải tạo… Ông già Hoà ứa nước mắt, thấm thía nỗi nhục nhã, gần sáu chục tuổi rồi, trải đời đã nhiều, nhưng chưa bao giờ ông bị nhục đến như thế này.

Ông lại trở về bến xe, thực ra cũng chẳng biết để làm gì. Ông đã năn nỉ rồi, nhưng chẳng chiếc xe nào chấp thuận. Người ta đang tranh sống, có hay không có ông, đâu có ăn thua gì. Hơn nữa, không có ông còn lợi hơn cho họ. Ông thất vọng nhìn người lên xuống xe mà lòng buồn rười rượi. Thình lình có người đi xe đạp xô rầm vào ông. Ông té nhào cùng với người đi xe và cái xe. Người đi xe đạp lóp ngóp bò dậy, lôi chiếc xe đạp đứng lên. Cô ta dựng xe đạp đứng, rồi biết lỗi, cúi xuống nâng ông già Hoà dậy. Cô ta nói:

-          Cháu xin lỗi bác. Cháu không để ý…, bác có sao không?

Ông già Hoà không trả lời, xuýt xoa rên rẩm. Ông chỉ bị té nhẹ và bị cái bàn đạp rạch một vệt dài ở chân làm tuôn máu. Cô gái vừa tông xe vào ông, thấy máu chảy ra, cô đâm hoảng. Cũng may, cô có vẻ con nhà gia giáo. Cô hết lời xin lỗi, đồng thời năn nỉ xin bồi thường cho ông già Hoà. Cô cầm hai chục đồng, nói với ông già Hoà:

-          Bác cầm lấy chút tiền uống thuốc. Cháu xin lỗi bác, cháu vô ý.

Ông già Hoà thấy tiền thì sáng mắt ra. Ông quên là ông đang được bồi thường. Ông cầm lấy tiền mừng rỡ, cám ơn cô gái y như cô là một vị ân nhân vậy, khiến cô ta cũng lấy làm lạ.

Được tiền rồi, già Hoà lại ngay quầy xe để mua vé, nhưng ông đã bị từ chối vì không có giấy. Biết kiếm chỗ nào có vé chợ đen mà mua bây giờ. Già Hoà cảm thấy thất vọng, làm sao về được bây giờ! Ông bỏ quầy vé lững thững ra bãi đậu xe, thình lình có người đến hỏi nhỏ:

-          Bác đi đâu đó?

Già Hoà trả lời:

-          Tôi về H.

-          Bác lên xe kia. Xe sắp chạy rồi đó!

Ông già Hoà được hướng dẫn lên xe, nhưng đến khi trả tiền, ông phải trả đắt gấp sáu bảy lần giá mua vé. Đúng là vé chợ đen.

Ông già Hòa đặt chân đến ấp cũng gần tối rồi. Bà con túm lại hỏi thăm cha. Ông mệt mỏi trả lời từng tiếng một.

          -     Cha… đi… rồi…

Nhân dân bàn tán xôn xao. Ông Trưởng Tuất và hội đồng giáo xứ được ông già Hoà báo cáo lại, vừa hốt hoảng, vừa lo sợ. Cái gì đã xảy ra cho cha? Ông Trưởng Tuất vặn hỏi mãi đến nỗi ông già Hoà đang ức sẵn, cũng đâm cáu.

-          Tôi chẳng biết gì hơn nữa. Có vậy mà phải năn nỉ người ta muốn gãy lưỡi mới được biết. Ông nào có tài thì đi thử cho biết.

Trưởng Tuất thất vọng ngồi bóp trán suy nghĩ: “Cha đi rồi”, “Người đàn ông tóc quăn, mang kiếng cận”. Bỗng Trưởng Tuất gật gù như vừa khám phá điều gì. Trưởng Tuất nói một mình: ‘Thôi phải rồi!’ nhưng lại do dự: “mà không lẽ”. Rồi ông lại tiếp tục ý nghĩ ban đầu: “có thể lắm”. Sau cùng ông dứt khoát với ý nghĩ: “mình cứ cho là vậy đi”. Ông nói to:

-          Nếu tôi đoán không sai thì có lẽ gia đình cô Mỹ Linh đến đưa cha ra rồi.

Ông đoán như vậy vì nghĩ rằng ba cô Mỹ Linh có mang kiếng cận, chỉ khác một điều là người này tóc quăn, nhưng anh em có thể khác nhau chút, ăn thua gì. Nhưng nhà cô Mỹ Linh thì ông biết, còn người kia ông không biết. Tuy nhiên là ai đi chăng nữa, họ đã vào nhà thương bảo lãnh cho ra đàng hoàng, tất nhiên họ sẽ chăm sóc lo lắng cho cha hơn nhà thương rồi. Trưởng Tuất chỉ buồn là không được giúp đỡ cha và biết tình trạng cha thuyên giảm ra sao và nếu giả như cha… Ông Trưởng Tuất quay lại hỏi ông già Hoà:

-          Ông già có hỏi người y tá địa chỉ người bảo lãnh không?

Ông già Hoà vẫn còn cau có, nghe ông Trưởng Tuất hỏi, ông càng bực dọc hơn nữa. Ông càu nhàu trả lời:

-          Tôi có hỏi người y tá. Anh ta cho tôi địa chỉ. Tôi đã nhờ người dẫn đi tìm, nhưng đến nơi lại là tiệm bán thuốc. Tôi có hỏi người trong tiệm thì họ lại có vẻ không biết gì.

Ông già Hoà rờ túi tính kiếm địa chỉ trao cho ông Trưởng làm bằng chứng, nhưng ông kịp nhớ ra người “bạn quý” của ông đã móc mất cái giỏ cùng với số tiền mà ông Trưởng Tuất trao cho ông để tiêu dùng và mua đồ cho cha. Nhớ đến, ông già Hoà than:

-          Quân ăn cắp nó móc luôn cả cái địa chỉ giả của cha rồi.

-          … Và ăn cắp luôn cả cha nữa chứ!...

Trưởng Tuất thở dài nói tiếp:

-          Nếu cha có làm sao, chắc thì rồi họ cũng cho biết thôi.

Trưởng Tuất nghĩ đến lúc giáo xứ sẽ mất cha, lòng ông se lại. Ông nhủ thầm: “Con không cha như nhà không nóc”.

Xem tiếp chương 9

Song Nguyễn