Trang chủ

Mục lục

Đất Mới  

 GIỚI THIỆU TRUYỆN DÀI ĐẤT MỚI

ĐẤT MỚI

Tác phẩm của Tác giả Song Nguyễn

Tác giả: Song Nguyễn

Nhà Xuất bản Tôn Giáo 2009

***

LTS: BBT/TTCG xin giới thiệu cùng quý độc giả truyện dài ĐẤT MỚI của Song Nguyễn do NXB Tôn Giáo ấn hành 2009. Nội dung ĐẤT MỚI kể lại cuộc đời của Linh mục Nguyễn Phương Toàn những ngày đầu cùng với giáo dân đi xây dựng vùng Đất Mới. Chủ đề, tư tưởng của Đất Mới không chỉ là vấn đề của cá nhân một linh mục, mà mở rộng hơn nhiều trong ý thức về thực tại. Đất Mới không chỉ là vùng đất kinh tế mới, là hoàn cảnh của một xứ đạo những ngày sau giải phóng 1975. Cuộc sống còn muôn vàn khó khăn, mỗi con người phải vật lộn với lam lũ để tìm kiếm miếng cơm manh áo. Đất Mới là vùng đất tâm hồn con người, vùng đất cần phải được khai hoá, canh tân…

***

LỜI TÁC GI

Những tác phẩm trong tủ sách “Đời Dâng Hiến” được viết vào thời gian trước và sau 1975 là thời gian mà công việc mục vụ đang bị “đóng khung”. Được nghe người này, người khác kể về những mảnh đời trong nhiều hoàn cảnh, nhiều tình huống khác nhau; tác giả lượm lặt, rồi hư cấu thành tác phẩm, để nhân vật được sống đời sống thực và hoạt động độc lập.

Viết lại những mảnh đời, những số phận, những trải nghiệm, tác giả chỉ có ý rút ra cho đời mục vụ của mình những bài học từ cuộc sống. Hay nói khác đi, các tác phẩm là những bài suy niệm sống qua các nhân vật và nếu có thể, chia sẻ với bạn bè tất cả những kinh nghiệm quý báu này. Mục đích chỉ đơn giản như vậy. Tới khi công việc mục vụ dày đặc, tác giả đã xếp các tác phẩm ấy vào loại “Một thời để nhớ”. Mãi đến gần đây, một Dì Phước thuộc dòng họ Nguyễn, nhân lúc bị tai nạn, có thời gian rảnh rang, mới tìm thấy trong thùng sách cũ với những bản thảo tác phẩm. Dì đọc thấy hay và nhận thấy tác phẩm có thể giúp ích cho chính mình và cho nhiều người đang sống đời dâng hiến. Tuy nhiên, Dì sợ nhận định của mình có thể chưa chính xác, nên đã nhờ đến quý thầy dạy cũ của mình, bây giờ là những nhà phê bình văn học, nhà văn, như thầy Bùi Công Thuấn, thầy Dương Kim Quới…, nhờ quý cha, quý thân hữu, cùng đọc và cho ý kiến. Tất cả các vị đều cho những nhận định tích cực và đề nghị phổ biến các tác phẩm cho nhiều người cùng chia sẻ. Sự đóng góp tích cực ấy còn được thể hiện qua việc chịu trách nhiệm biên tập, in ấn và phát hành các tác phẩm.

Trước yêu cầu thân tình và chính đáng này, tác giả rất trân trọng và biết ơn, vì được chia sẻ với người khác trong mọi lĩnh vực: tinh thần, xã hội… đều nằm trong hoạt động mục vụ của người sống đời dâng hiến. Hơn nữa, các tác phẩm còn được xem như là những bài huấn đức, những sứ điệp gửi cho nhiều thành phần Dân Chúa.

Tuy nhiên, sự hiểu biết và kinh nghiệm của tác giả còn rất giới hạn, cả về mặt tư tưởng tu đức cũng như thực tế của xã hội bởi các tác phẩm được viết vào thời gian đặc biệt của những biến động lớn lao trong lịch sử xã hội. Bên cạnh đó, khả năng miêu tả của ngòi bút cũng hạn chế, nên không tránh khỏi những sai sót. Chính vì thế, tác giả rất mong được sự thông cảm và góp ý chân thành của Quý độc giả.

Song Nguyễn

***

ĐỌC TÁC PHẨM ĐẤT MỚI

(Truyện dài của Song Nguyễn)

Đất Mới kể lại cuộc đời của Lm. Phương Toàn những ngày đầu miền Nam mới giải phóng 1975. Nếu “đời là bể khổ” thì Lm. Nguyễn Phương Toàn đã nếm trải đủ mùi tục luỵ. Sinh ra làm người mà không được sống đúng với giá trị thực của mình, đó là một điều tủi cực. Từng là một giáo sư chuyên nghiệp, Ngài dấn thân đi “kinh tế mới” cùng với giáo dân, sống cuộc sống lao động chân tay như một người nông dân cùng cực. Ai có sống trong tình cảnh một người trí thức, bỗng trở nên vô dụng, mới hiểu hết nỗi bi thương trong tâm hồn “con người vô dụng” ấy. Những ngày đầu giải phóng, thời kỳ cải tạo tư sản miền Nam, nhiều người trí thức phải bỏ cây viết đi cầm cuốc. Họ đau đáu câu thơ của Trần Nguyên Đán (1325-1385):

Tam vạn quyển thư vô dụng xứ,

Bạch đầu không phụ ái dân tâm.

(Nhâm Dần Niên Lục Nguyệt tác)

(Đọc ba vạn cuốn sách mà không có nơi dùng

Đến bạc đầu cũng không phụ lòng thương dân)

Lm. Phương Toàn cũng vậy. Trên vùng đất kinh tế mới, ngài cũng phá rừng, làm rẫy, tỉa hạt, gieo gặt như mọi người lao động khác. Ngài vượt qua được bi kịch cá nhân nhờ dấn thân cho lý tưởng phục vụ cộng đoàn, chọn cuộc sống với “đàn chiên” làm quê hương. Ngài quyết liệt từ bỏ mọi cơ hội sống sung sướng cho bản thân, kể cả việc được bảo lãnh đi nước ngoài. Nhưng cuộc sống lam lũ quá sức đã làm ngài suy kiệt, cơn bệnh sốt rét quái ác đã vật ngã ngài, nhiều lần thập tử nhất sinh, không thuốc men, không người chăm sóc. Nhất là ngài bị phân biệt đối xử trong những mặc cảm kỳ thị. Đi cạnh ngài là Trưởng Tuất, ông luôn luôn bị bức xúc vì những cảnh đối xử thiếu tôn trọng với ngài. Người ta đã không đối xử với ngài như một con người bình thường. Và bỗng dưng ngài mất tích, như một sự trốn chạy cái chết đến hai lần.

Nhưng khó khăn của Lm. Phương Toàn không chỉ do ngoại cảnh, thời cuộc và cuộc sống vật chất lam lũ cơ cực, hơn thế, còn do những cơn bão tình cảm, mà nhiều khi làm cho ngài lao đao, đau đầu suy nghĩ. Sống làm một người bình thường trong những cơn bão lòng ấy đã khó, với một linh mục còn khó hơn nhiều. Nguyễn Du từng viết:

“Có trời mà cũng tại ta,

Tu là cõi phúc tình là dây oan”.

Người đi tu mà vướng phải sợi dây oan nghiệt của tình yêu trần gian giăng mắc thì biết gỡ thế nào. Nhất là tình yêu ấy lại gắn kết với ân tình, ân nghĩa sâu nặng thì gỡ sao ra. Cả Mỹ Linh và Minh Nguyệt đều yêu ngài bằng tình yêu đắm đuối. Cả hai gia đình ấy đều là chỗ ân nghĩa rất lớn đối với ngài. Đạo lý của người Việt Nam không chấp nhận những con người bạc tình bạc nghĩa. Hơn nữa xác thịt yếu hèn, mấy ai không ngã lòng khi bên cạnh mình luôn có một người con gái dạt dào sức sống yêu thương mình, coi mình như chính sự sống của họ. Thực ra tình yêu lứa đôi cũng là một phẩm chất nhân bản quan trọng, vì nó dệt nên tình nghĩa vợ chồng. Tuy nhiên, với người mục tử, lý tưởng sống chết vì đoàn chiên đã giúp Lm. Phương Toàn vượt qua được những quyến rũ ngọt ngào trần gian. Sống với giáo xứ vùng kinh tế mới những ngày đầu, nhiều giáo dân đói khổ, có lúc nhà thờ bị cháy rụi, nhiều nhà dân cũng bị cháy, họ cần cả lương thực phần xác và lương thực phần hồn. Cơn bão yêu thương ấy réo gọi lý tưởng người mục tử, giúp ngài vượt qua được những níu kéo tục luỵ đam mê.

Có thể thấy điều này, thân phận linh mục là sống giữa mọi người, dẫn dắt mọi người trong ánh sáng đức tin, tiến về những giá trị nhân bản cao đẹp. Nhưng thân phận ấy bị thiêu đốt giữa nắng lửa mưa dầu trần gian, bị giằng xé quyết liệt bởi yêu và ghét, ngoại cảnh và nội tâm. Làm thế nào để giữ vững phẩm giá người mục tử giữa những chao đảo, những toan tính vô tâm? Đất Mới là một con đường. Con đường ấy là như Lm. Phương Toàn nói với Mỹ Linh: “Muốn có Phục Sinh, phải qua Thánh Giá”. Con đường ấy là con đường Chúa Giêsu đã đi: “Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11).

Tuy nhiên chủ đề, tư tưởng của Đất Mới không chỉ là vấn đề của cá nhân một linh mục, mà mở rộng hơn nhiều trong ý thức về thực tại. Đất Mới không chỉ là vùng đất kinh tế mới, là hoàn cảnh của một xứ đạo những ngày sau giải phóng 1975. Cuộc sống còn muôn vàn khó khăn, mỗi con người phải vật lộn với lam lũ để tìm kiếm miếng cơm manh áo. Đất Mới là vùng đất tâm hồn con người, vùng đất cần phải được khai hoá, canh tân.

Truớc hết là tâm hồn ông Trưởng Tuất, vùng đất cũ, ở đó những bức xúc, bực bội, thành kiến đã làm cho ông nhìn lệch con người thực tại. Ông chỉ nhìn thấy cái xấu, cái tiêu cực, cái ngăn trở mà không rộng mở để canh tân và thích ứng. Thứ hai là vùng đất tâm hồn những người có thành kiến với tôn giáo, đố kỵ với linh mục. Họ gây ra không ít khó khăn cho Lm. Phương Toàn, mà cụ thể là sự phân biệt đối xử. Vùng đất thứ ba là của những tâm hồn chỉ biết đến quyền lợi riêng tư. Cả Mỹ Linh và Minh Nguyệt muốn chiếm hữu Lm. Toàn cho riêng mình. Họ cũng gây khó khăn không ít, thậm chí còn nhiều hơn so với những người đố kỵ Lm Toàn. Cả ba vùng đất ấy đều được Lm. Toàn khai phá, hoán cải thành vùng đất màu mỡ cho sự gieo trồng đức tin và phát triển đức ái.

Ngài đã canh tác thế nào trên những vùng đất hoang hoá ấy thành vùng đất mới? Theo dõi số phận của Lm. Phương Toàn, người đọc nhận ra sự kiên định lý tưởng ngài đã chọn lựa, sự khôn ngoan hành xử trong từng hoàn cảnh cụ thể; lòng nhân ái, thái độ sống bao dung, sự cảm thông sâu sắc những con người trong những hoàn cảnh bị thúc ép, sự ẩn nhẫn thuyết phục, và hơn hết, bằng chính hành động dấn thân cho cộng đoàn. Từ đây, mọi người nhận ra vẻ đẹp thực sự của Ngài, nhất là vẻ đẹp lý tưởng ngài theo đuổi, tất cả cùng chuyển hoá, trở thành người đồng hành với ngài đi về tương lai.

Ở góc nhìn như vậy, Đất Mới mang ý nghĩa khai mở tư tưởng cho nhiều vấn đề của thực tại.

Nếu chỉ đọc Đất Mới như đọc một chuyện tình, một chuyện thời sự những ngày sau giải phóng 1975, sẽ không thấy được những tư tưởng mới mẻ như đã trình bày ở trên; trái lại, người đọc sẽ dễ rơi vào những cực đoan. Sẽ có cái nhìn thiên lệch về ngành y tế, về cán bộ nhân viên Nhà Nước. Sẽ chỉ chú ý vào câu chuyện tình yêu xem diễn biến cuộc tình lâm ly thế nào, hoặc sẽ lên tiếng phê phán về cái thời chưa đổi mới, xã hội còn trong giai đoạn ấu trĩ của những mò mẫm đi tìm Chủ nghĩa Xã hội. Đất Mới phải là sự canh tân thực sự đối với mỗi tâm hồn người đọc, khi mà cái nhìn thiên lệch, đố kỵ, cực đoan còn tồn tại, dù yêu hay ghét, đều cản trở sự phát triển nhân bản và phát triển xã hội.

Về mặt nghệ thuật, Đất Mới có cách kể bình dị tự nhiên. Tuy vậy có những hình ảnh dễ gây “shock” với người đọc hôm nay, chẳng hạn chuyện đối xử tệ với bệnh nhân Toàn, để bệnh nhân Toàn nằm chung với người phong cùi; chuyện y tá chích thuốc cho Lm. Toàn làm gẫy kim và sau đó tiến hành mổ không gây tê; chuyện mất tích của Lm. Toàn và sự “tỏ tình” đột ngột của Minh Nguyệt. Tuy nhiên, những chi tiết ấy vẫn nằm trong giới hạn có thể của bút pháp hiện thực. Cũng cần phải thấy được sự tinh tế của ngòi bút trong việc miêu tả tình yêu, một tình yêu vừa rất trần gian vừa rất thánh thiện, nhân vật Lm. Toàn rất người, rất hiện sinh, nhưng cũng rất lý tưởng giữa đời thường.

Đọc Đất Mới, mỗi người đều có thể tìm thấy một bài học bổ ích cho riêng mình trên con đường đi tới những giá trị nhân bản để làm thăng hoa đức tin và thăng tiến xã hội.

Bùi Công Thuấn 2009

***

TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN CÔNG GIÁO TRONG ĐẤT MỚI

(Truyện dài Đất Mới của Song Nguyễn)

 

                                                                                                 Bùi Công Thuấn

 

Giá trị của một tác phẩm văn chương trước hết là ở nội dung câu chuyện được kể, ở nghệ thuật kể chuyện, tức là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, bút pháp, cách khắc hoạ nhân vật, ở việc đặt ra và giải quyết những vấn đề của thời đại. Nhưng cốt lõi những giá trị ấy lại là tư tưởng của tác phẩm. Những tác phẩm lớn, sống lâu bền trong lòng người đọc là nhờ nó chưá đựng những tư tưởng tiến bộ. Tư tưởng nhân văn là một trong những  tư tưởng nền tảng làm nên giá trị văn hoá nghệ thuật của mọi thời đại. Ở Việt Nam, tư tưởng nhân văn đã có trong ý thức của dân tộc từ xa xưa, nó thâm nhuần trong mọi ứng xử với con người. Người Việt coi trọng con người. “Người ta là hoa đất”, con người là cái đẹp của cuộc sống này. Sự sống là vô giá. “Người sống hơn đống vàng”. Quan hệ người với người là quan hệ yêu thương: “Thương người như thể thương thân”.

Tư tưởng nhân văn đặc biệt phát triển thành trào lưu tư tưởng nghệ thuật từ thời Phục Hưng ở phươngTây. Ðặc trưng chủ yếu của Chủ nghĩa Nhân văn là sự suy tôn con người, là sự khôi phục lại con người (hay tính người), và con người bao giờ cũng được coi là tốt đẹp (con người chí thiện). Con người được đặt vào trung tâm thế giới, được đặt lên ngôi cao nhất (con người chí tôn)(1). Văn học và nghệ thuật thời đó đưa chất người” vào “chất thần thánh”, biến đời sống thần thánh thành đời sống bình thường của con người. Con người là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài” (Shakespear). Các nhà nhân văn chủ nghiã nhân văn lấy câu của Têrăngxơ, một nhà hài kịch La Mã làm phương châm: “Tôi là một con người, không có cái gì có tính chất người lại xa lạ với tôi”. Con người là một bộ phận của tự nhiên, sống và chết theo quy luật tự nhiên, vì thế phải trả con người về tự nhiên để nó phát triển theo tư nhiên.(2) Chiến tranh phong kiến, chủ nghĩa khổ hạnh, ngu dân, đàn áp tư tưởng là trái với tự nhiên, là nguồn gốc gây ra bất hạnh, xấu xa, tội lỗi trên thế giới. Chủ nghĩa Nhân văn sau thời Phục Hưng được làm phong phú hơn bởi tư tưởng dân chủ thời Khai Sáng, ý thức đấu tranh giải phóng con người của Chủ nghĩa Marx và ý thức về  tồn tại của Chủ nghĩa Hiện sinh.

Nhưng vượt lên trên tất cả là tư tưởng nhân văn Công giáo mà cội nguồn là Thánh Kinh. Thánh Kinh đem đến cho nhân loại cái nhìn về bản thể con người, về cõi người về ý nghiã sự sống của con người. Con người là gì? Con người không chỉ là vật chất thụ tạo, mà con người được nâng lên khỏi mọi loài thụ tạo, mang bản thể của Thiên Chuá, được thánh hiến và ở trong Thiên Chuá. Không có cái nhìn nào về con người siêu việt như thế. Chúa Giêsu đã cầu nguyện với Thiên Chuá Cha cho con người: “Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến. Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta” (Ga 17,19-21). Thánh Kinh nói con người nhưng không phải là con người trừu tượng mà là con người cụ thể, đó là những con người nghèo khổ. Mở đầu bài giảng tám mối phúc, Đức Giêsu dạy rằng: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chuá là của anh em” (Lc 6,20). Trong cuộc phán xét chung, Đức Vua đã thưởng cho những người được chúc phúc, vì “xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han”. “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta” (Mt 25,35-40). Thánh Kinh đã trân trọng con người ở thân phận bé nhỏ và khốn khổ nhất, lấy hành động vì con người làm thang bậc giá trị để  phán xét ở ngày cánh chung.

Từ cái nhìn con người như thế, Thánh Kinh lấy lòng yêu thương con người làm điều răn quan trọng. Khi được hỏi điều răn nào quan trọng nhất, Đức Giêsu trả lời: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn lớn nhất và điều răn đứng đầu. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình (Mt 22,37-39). Chúa còn dạy: “Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,44). Nhưng yêu thương như thế nào? Dụ ngôn về người Samari tốt lành là một lời giải đáp cụ thể (x. Lc 10,29-37). Thấy người bị nạn bên đường, thầy Tư Tế bỏ đi, thầy Lêvi cũng tránh xa, còn người Samairi lại gần “lấy dầu, lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ săn sóc. Hôm sau, ông ta lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác”. Người phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang, theo luật Môsê thì phải bị ném đá. Thế nhưng Đức Giêsu đã cứu chị và nói với chị: “Tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!" (Ga 8,11). Một lần khác, cảm thương tình cảnh cuả chị em Mácta và Maria, Đức Giêsu đã khóc thương Lazarô (x. Ga 11,33). Người đã truyền cho Lazarô từ cõi chết sống lại. Qua những trường hợp cụ thể ấy, Thánh Kinh đã chỉ ra, tư tưởng nhân văn Công giáo thể hiện ở lòng yêu thương mang đến sự giải thoát con người khỏi đau khổ, tội lỗi và sự chết.

Vấn đề con người, giải phóng con người, và hạnh phúc của con người là vấn đề của muôn thuở. Tư tưởng nhân văn Phục Hưng hay nhân văn của Chủ nghĩa Marx, cả Chủ nghĩa Hiện sinh cũng chỉ là không tưởng. Bởi những bi kịch của con người vẫn còn nguyên đó. Đau khổ, thù hận, tội lỗi, cái chết vẫn bao trùm lấy con người. Chỉ tư tưởng nhân văn Công giáo mới soi rọi ánh sáng cho số phận của con người. Trong Đất Mới, tư tưởng nhân văn Công giáo được Song Nguyễn thể hiện thế nào?

Tư tưởng ấy được thể hiện qua nhân vật trung tâm là Lm. Phương Toàn. Cái nhìn của Lm. Phương Toàn về con người là cái nhìn trân trọng, hiểu biết và cảm thông sâu sắc. Ngài nhìn thấy vẻ đẹp thánh trên khuôn mặt Tương Ấn khi qua đời. “Khuôn mặt gầy gò xanh mét dần dần trở nên đầy đặn hồng hào, với một vẻ bình an lạ lùng” (tập 2, tr. 45). Trong bệnh viện, ngài nhìn anh thanh niên nằm bên cạnh mình, nhìn những bệnh nhân cùi xung quanh mình như bạn hữu, cùng xẻ chia thân phận con người trong cảnh ngộ ngặt nghèo. Người cũng nhìn với thái độ ẩn nhẫn và trân trọng với những người đã gây ra cho mình sự khốn khó  trong lúc nằm viện (chương 4, tập 1) hay lúc bị tạm giam 75 giờ (chương 11, tập 3) và cả lúc ngài phải hạ mình trước bọn xấu khi đi tìm đoàn con bị giữ ở đồi vàng. Điều này trái ngược với cái nhìn cực đoan của Trưởng Tuất và cái nhìn đố kỵ cuả những người xung quanh ngài. Trong hoàn cảnh khó khăn và đầy lo âu của những năm tháng sau 1975, tương lai chưa biết thế nào, lòng ngài không nguôi xao xuyến, cái nhìn về con người của Lm. Phương Toàn là cái nhìn sâu thẳm của tư tưởng nhân văn Công giáo. Cái nhìn ấy như hào quang ngời lên trong tăm tối, đau khổ, hoạn nạn, và cả những nghịch cảnh trong suốt tác phẩm.

Thái độ chọn lựa đứng về phía người nghèo khổ của Lm. Phương Toàn mới thực sự thể hiện tư tưởng nhân văn Công giáo. Ngài đi kinh tế mới với giáo dân, cùng lao động, cùng sẻ chia những khó khăn vất vả. Ngài sống giữa mọi người, như mọi người, nhưng quan tâm đến mọi người, chăm lo cả đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người. Lm. Phương Toàn từ chối quyết liệt sự mời gọi xuất cảnh cũng là từ chối sống cuộc sống cá nhân sung sướng hơn, thoải mái hơn, để sống cuộc sống nhập thể với người nghèo, người đau khổ. Dù là lúc nằm viện hay là lúc du lịch trên đất Mỹ, tiếng gọi của những con người thương yêu nơi quê hương luôn vang lên trong đầu ngài, luôn lôi kéo ngài trở về với họ và dấn thân cho họ. Ngài đã làm hết sức mình cho cuộc sống no cơm ấm áo của họ, cho đời sống tinh thần đói khát cuả họ. Không có lòng yêu thương con người mãnh liệt thì Lm. Phương Toàn không thể dấn thân như thế.

Lý tưởng của chủ nghiã nhân văn là hướng đến sự giải phóng con người khỏi trạng thái nô lệ, khẳng định giá trị làm người, đem đến hạnh phúc cho con người ngay trong cõi đời trần gian này, nhận ra cái đẹp của chính cuộc sống thế tục. Muốn vậy phải hành động để thay đổi  những hoàn cảnh làm tha hoá con người. Đất Mới có đạt đến lý tưởng của chủ nghĩa nhân văn như vậy không?

Lòng yêu thương con người  của Lm. Phương Toàn đã làm nên một  vùng “đất mới”. Nơi ấy con người được giải phóng khỏi những hẹp hòi, ích kỷ, thù nghịch. Nơi ấy con người mở lòng ra với nhau để cùng góp sức xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc, xẻ chia cơm áo và tình thương. Nơi ấy hoá giải mọi mâu thuẫn để cùng phát huy những nguồn lực vật chất và tinh thần. Nơi ấy hoàn cảnh sống được cải thiện để không còn làm tha hoá con người.

Có thể thấy rõ tư tưởng nhân văn Công giáo trong Đất Mới đã nở hoa thành quả trong hiện thực. Những định kiến ban đầu của nhân viên Nhà nước với Lm. Phương Toàn dần dần được thay thế bằng sự hiểu biết và trân trọng lẫn nhau. Những yêu thương ích kỷ của Mỹ Linh, Minh Nguyệt hay ông Trưởng Tuất được thay thế bằng tình yêu thương có tầm vóc xã hội rộng hơn để rồi sau đó chính gia đình Mỹ Linh, Minh Nguyệt đã có những đóng góp quan trọng và có ý nghĩa giúp Lm. Phương Toàn hoàn thành ý nguyện của mình. Việc dời ấp Tân Hữu là một nỗ lực làm thay đổi môi trường, làm thăng tiến đời sống giáo dân, ngăn chặn được những yếu tố làm tha hoá con người, mà trực tiếp là nạn nghèo đói. Sự sẻ chia cơm áo cuả giáo dân Tân Hữu cho bà con di dân Tân Thành là hành động cụ thể của yêu thương Công giáo. Cả tác phẩm Đất Mới là bài ca yêu thương, bài ca ca ngợi con người. Ánh sáng tư tưởng nhân văn Công giáo trở nên rực rỡ, đem đến một niềm tin thực sự cho người đọc, niềm tin vào con người chí thiện, vào sức mạnh của con người có thể làm nên Nước Trời ngay trong cõi tại thế này, và hơn hết niềm tin vào người mục tử tốt lành hết lòng vì đoàn chiên.

Hãy so sánh một chút với một truyện miêu tả con người qua cái nhìn của chủ nghiã hiện sinh. Dương Nghiễm Mậu trong truyện CŨNG ĐÀNH (1958) kể lại cuộc chạy trốn cuả một con người từ Sơn Tây về Hà Nội. Không có giấy tờ tuỳ thân, anh ta phải trốn trên xe chở củ nâu .Về đến bến xe Kim mã, trời tối, anh không biết đi đâu, đành chui vào một túp lều sống với lũ chuột. Cuộc sống trôi đi. Anh ta như như con chó ốm ghẻ, lang thang lẩn lút, không chốn nương thân. Không có tiền mua thuốc, anh ta phải nuốt giun để chữa sốt rét. Không có gì để ăn, anh ta phải nhét vào mồm từng chút cặn thịt hộp đã thiu moi trong ống lon ở bãi rác để khỏi chết đói. Rồi cũng tìm được việc làm phụ ở chỗ thổi thuỷ tinh. Lại bỏ việc, đi nhặt mảnh chai. Rồi dun rủi, lại sống chung với gái điếm, và sau cùng bị bắt. Khi bị tra hỏi, anh ta không biết mình là ai, kể cả tên mình. Bị đánh dập tra khảo mãi, anh ta đành chịu vì chẳng biết khai gì. Viên cố đạo đến giúp tù binh, bị anh ta chửi vào mặt. Rồi một hôm bọn lính dồn anh ta lên xe chở ra cánh đồng, bắt đào hố. Anh ta biết sắp được tự chôn mình. Có tiếng lên đạn lách cách, chúng bắt anh quay mặt vào hố. Anh ta nhớ câu hỏi: “Cha mẹ mày tên gì?”. Câu truyện kết thúc ở đó. Nhà văn hiện sinh miêu tả con người như con vật trần trụi, bị săn đuổi, không chốn nương thân. Sống là đi về cái chết như một tất yếu bi đát. Cô đơn trong thân phận con người. Tuyệt vọng đến chối bỏ cả đức tin, và vô nghiã đến độ không còn biết mình là ai. Nhìn con người như thế, nhà văn tỏ ra hoàn toàn bất lực trong nhận thức về con người về sức mạnh vất chất và tâm linh của con người. Con người đành bó tay trong cõi chết từng ngày. Nếu nhà văn có yêu thương con người thì tình yêu thương ấy chẳng đem đến cho con người điều gì an ủi ngoài nỗi sợ hãi và tâm trạng bi đát. Trái lại, tư tưởng nhân văn trong Đất Mới soi rọi vào bên trong sức mạnh cuả con người, sáng lên những phẩm chất tốt đẹp của con người và đem đến niềm tin cứu rỗi cho con người khỏi tăm tối tuyệt vọng. Đất Mới đem đến niềm tin hân hoan cho người đọc.

Tư tưởng nhân văn Công giáo cũng kết tinh trong việc xây dựng nhân vật Lm. Phương Toàn, như một con người bình thường nhưng lại đạt đến những phẩm chất lý tưởng của một con người có lý tưởng nhân văn đẹp đẽ. Điều này xoá đi những ngộ nhận, bôi bác của Chu Văn trong Bão Biển. Nhà văn này đã miêu tả xuyên tạc, làm méo mó hình ảnh người tu sĩ, người Công giáo ở miền Bắc những năm 1955 đến 1960. Chu Văn quy kết cho người Công giáo đã phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ việc bắc loa phong thanh, trồng bèo hoa dâu, làm nhà hộ sinh đến những việc phá hoại khác. Tu sĩ bị coi là thành phần hủ hoá, là lực lượng ngầm cản trở những nỗ lực tiến lên cuả xã hội. Chủ đề cuả tác phẩm này khẳng định bão táp cách mạng sẽ đánh tan mọi thế lực chống lại cách mạng xã hội chủ nghiã ở miền Bắc. Tác phẩm này còn được dựng thành phim Ngày Lễ Thánh để chiếu tuyên truyền ở nhiều nơi. Ngày nay, hiện thực cuộc sống đã lật tẩy những điều Chu Văn bịa đặt ra. Đất Mới khẳng định chính người mục tử Công giáo, cùng với giáo dân “sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc”, đang đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng Đất Nước. Sở dĩ được như vậy là vì nhân vật Lm. Phương Toàn thực sự là mục tử hiến thân vì đoàn chiên. Kiểu nhân vật như vậy là kiểu nhân vật tích cực đóng góp cho văn chương Việt Nam, Đó là nhân vật tỏa sáng tư tưởng nhân văn, mà dù là ai trong xã hội đếu nhận ra những giá trị tốt đẹp ở nhân vật này.

Trong nhiều tác phẩm của văn chương Việt Nam hiện nay, đầy dẫy những nhân vật bệnh hoạn, sống truỵ lạc, chán chường, vô vọng, lặn ngụp trong sex (3). Thật khó tìm ra một nhân vật lý tưởng, một nhân vật có lý tưởng sống tích cực. Nhiểu tác phẩm của nhà văn trẻ đang cổ vũ cho chủ nghiã thực dụng, vị kỷ, cổ vũ cho lối sống vô luân, đồi truỵ. Chẳng thể tìm đâu được một nhân vật biết sống vì tha nhân, vì cộng đồng; chẳng thể tìm đâu được một nhân vật tích cực, được xây dựng dưới ánh sáng của chủ nghĩa nhân văn tiến bộ, biết hành động đem tình người đến mọi nơi, đẩy lùi đói nghèo và tha hoá như nhân vật Lm. Phương Toàn trong Đất Mới. Thực trạng ấy của văn chương Việt Nam đang được báo động, bởi nó góp phần làm tha hoá người trẻ, làm băng hoại văn hoá Việt Nam và làm sụp đổ các giá trị tinh thần của Văn hoá Việt Nam. Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị đã phê phán: “Một số sản phẩm văn học, nghệ thuật tầm thường, chất lượng kém được phát hành, truyền bá gây tác hại, ảnh hưởng xấu tới công chúng, nhất là thế hệ trẻ… chiều theo thị hiếu thấp kém của một bộ phận công chúng, hạ thấp chức năng giáo dục, nhấn mạnh một chiều chức năng giải trí”. Nghị quyết cũng đề ra mục tiêu: “Tập trung mọi nguồn lực xây dựng nền văn học, nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng nhân cách con người Việt Nam đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng về chân, thiện, mỹ của các tầng lớp nhân dân…”.

Đất Mới được viết trong ánh sáng của tư tưởng nhân văn Công giáo nên từ nội dung câu truyện đến nhân vật, chi tiết nghệ thuật đến bút pháp đều ánh lên vẻ đẹp chân thực có thể chạm vào được tâm thức sâu xa cuả người đọc. Đó là khát vọng về một “Đất Mới” trong đời thực, niềm tin vào con người. Hoặc ít ra cũng đem đến cho người đọc cái nhìn nhân ái về cuộc sống, nhận ra sự tốt đẹp của cuộc sống ở cõi tại thế này và khẳng định sức mạnh cuả tình yêu thương có sức giải thoát con người khỏi đau khổ, tội lỗi và sự chết. Đọc Đất Mới dưới ánh sáng của tư tưởng nhân văn Công giáo, người đọc sẽ nhận ra giá trị nhiều mặt của tác phẩm này. Đó quả là một món quà quý giá Song Nguyễn dành tặng chúng ta.