Trang chủ

Mục lục

Một Đời Dâng Hiến  

Tác giả: Song Nguyễn

 Tác phẩm của Tác giả Song Nguyễn
 

 CUỘC ĐỜI DÂNG HIẾN

Tác giả: Song Nguyễn

Chương 11

Cây sứ trổ bông

Hạt giống rơi xuống đất có thối đi, hay nói cách khác, có thay đổi trạng thái hiện hữu thì mới phát triển được. Thực tế đó rất đúng với trường hợp Dì Antony. Dì Lan phát biểu ý đó với ba.  Ba hiểu ý Dì và ba hỏi lại Dì:

-  Như vậy có nghĩa là sau khi Dì bị bệnh thì có nhiều người giúp đỡ Dì?

-   Nhiều người thì không hẳn như vậy, vì số người trong trại có thể giúp được các bệnh nhân, nhất là những người có khả năng càng khó. Nhưng điều đáng nói ở đây là hiệu năng của công việc.

-  Nghĩa là những cán bộ đã giúp Dì Antony nhiệt tình và phát triển khả năng hơn?

-  Phải đúng như vậy. Khi mọi người biết Dì Antony đã lây bệnh, họ thương Dì, khóc lóc, đau buồn với Dì, cầu nguyện xin cho Dì được khỏi bệnh và họ còn quảng đại sẵn sàng chịu chết cho Dì. Nhưng khi họ thấy Dì chịu đựng bệnh tật rất bình tĩnh và phó thác vào Chúa, lại còn khuyến khích những người đến chia sẻ với Dì ý nghĩa cao cả của việc chịu bệnh. Từ đó mọi người càng thấy rõ tình thương cao cả của Dì đối với họ. Nên để đáp lại tình thương này, họ quay sang cộng tác tích cực với Dì, không phải để lo cho Dì nhưng là để giúp cho chính họ và các bệnh nhân khác. Còn Dì chỉ tự chạy chữa và chịu sự hành hạ của vi trùng. 

-  Hẳn là ông còn nhớ thầy Sáu chứ? Dì Lan nhìn ba hỏi.

-  Dạ! Tôi nhớ!

Như ông biết đó, trong thời gian đầu khi mới cộng tác với Dì Antony, ông thầy này rất nhiệt tình và hăng say, nhưng dần dần ông “mết” Dì Antony và muốn Dì săn sóc riêng cho ông.  Dì Antony vừa khôn ngoan, vừa cương quyết cho ông hiểu lý tưởng và đời sống phục vụ của Dì, nhất nữa là trong một bối cảnh đặc biệt này, Dì càng phải gương mẫu hơn. Sau nhiều lần hờn dỗi và vùng vằng, thầy Sáu đành chịu vậy. Nhưng cái sự sốt sắng ban đầu cua thầy không còn nữa, cho đến khi ông biết được Dì Antony bị bệnh, ông đổi hẳn thái độ. Ông đau buồn như chính khi ông bị bệnh. Ông công khai tuyên bố với mọi người: “Tôi sẵn sàng mang thân bệnh tật của Dì Antony, để Dì được lành mạnh mà giúp chúng tôi”. Và cũng từ đó, ông trở nên nhiệt thành và hăng say hết mình, đồng thới tính tình ông trở nên dễ dãi, chịu đựng gian khổ rất giỏi. Những nhân chứng còn lại thuật:

Hồi trước, khi mới học nghề thuốc với Dì Antony, thầy Sáu năng đến nhà thờ đọc kinh cầu nguyện. Bỗng nhiên một dạo thầy lơ là việc cầu nguyện, hoặc có đến cũng là cho có mặt vậy thôi, chứ không sốt sắng gì. Nhưng hồi sau này, nghĩa là từ ngày thầy biết Dì Anotny bị bệnh, thầy lại trở nên sốt sắng. Người ta thấy thầy cầu nguyện với Đức Mẹ nhiều giờ.

Lúc đầu người ta tò mò hỏi thầy:

-  Thầy cầu nguyện gì mà thấy thầy cứ ăn vạ Đức Mẹ hoài vậy?

Thầy hóm hỉnh trả lời:

-  Tôi xin Đức Mẹ cho Dì khỏi bệnh hoặc cho tôi được chịu thay cho Dì.

Người ta lại chọc thầy:

-  Thầy đang mang bệnh rồi thì làm sao chịu thay được?

-  Không chịu thay được thì chịu thêm!

-  Thế Đức Mẹ trả lời thầy sao?

-  Đức Mẹ không trả lời vì Dì Antony không chịu!

Mọi người đều trố mắt nhìn thầy ngạc nhiên hỏi lại thầy:

-  Tại sao Dì Antony lại không chịu?

Thầy giải thích:

-  Số là tôi xin với Dì Antony cũng như mọi người biết hợp với tôi nài xin Đức Mẹ cầu bầu cùng Chúa cho Dì khỏi bệnh, nếu không, số phận của bệnh nhân trong trại sẽ nguy hiểm. Nhưng khi tôi bày tỏ ý kiến ấy với Dì Antony, thay vì  chấp nhận, Dì khuyên lại tôi:

-  Đừng nài ép Chúa như vậy! Nếu thầy và mọi người có thương tôi thì xin Chúa cho tôi biết làm theo ý Chúa.

Người ta vẫn chưa buông tha, vặn hỏi thầy thêm:

- Vậy bây giờ thầy còn cầu nguyện cho Dì Antony nữa không?

-  Có chứ! Tôi đang và sẽ cầu nguyện hoài cho Dì.

-  Để Dì khỏi bệnh?

-  Không! Vì Dì muốn nên giống Chúa và nên giống các bệnh nhân mà!

-  Vậy thầy xin ơn gì cho Dì?

-  Không hẳn là riêng cho Dì nữa mà cả cho tôi nữa.

Rồi thầy giải thích:

-  Xin Chúa cho Dì can đảm sống theo ý Chúa và cho tôi cũng như mọi bệnh nhân biết noi gương Dì…

Ngoài việc trở lại sốt sắng trong lời cầu nguyện, thầy Sáu cũng trở lại nhiệt thành trong việc phục vụ các bệnh nhân. Thầy nhẫn nại hy sinh không nề quản một việc gì. Người ta kể lại một số những công việc thầy làm trong thời kỳ này, chẳng hạn như trường hợp thầy săn sóc một bệnh nhân bị bại liệt, mọi sinh hoạt của bệnh nhân đều giới hạn trong phạm vi cái giường, nên bắt đầu thịt mông bị sưng thối. Cái mùi nồng nặc ấy cứ mỗi ngày mỗi tăng, bệnh nhân đau đớn kêu la và có lúc mất trí, đập đánh cả người săn sóc. Cũng chính vì vậy, ngoài Dì Antony săn sóc, giúp đỡ ủi an bệnh nhân ra, chỉ còn thầy Sáu. Thầy Sáu kiên nhẫn lạ thường, hầu như không ngày nào thầy không có mặt tại giường bệnh nhân để thuốc men, băng bó thay đồ cho bệnh nhân. Ngay cả khi bị đập bể đầu, thầy vẫn không giận bệnh nhân; trái lại, thầy còn thương bệnh nhân hơn. Thầy tâm sự với người khác:

-  Bệnh nhân nổi đoá lên là dấu chẳng lành rồi đó!

Nhưng cái dấu chẳng lành đâu đã chấm dứt ngay cho đâu. Bệnh nhân này sống ngoại khổ - bà con nói giỡn với nhau - nên tai họa còn xảy đến cho thầy Sáu nhiều lần. Lần nặng nhất thầy Sáu bị nguyên cái chén ăn cơm liệng vào đầu, miểng chén ghim vào da thịt, làm máu ra nhiều.  Bệnh nhân khác chứng kiến thấy máu thầy ra nhiều, hối hả chạy báo tin cho Dì Antony. Thầy Sáu biết được có người đi báo Dì Antony, thầy cho gọi người đi báo lại, nhưng đã quá muộn. Người đi báo đã cho Dì Antony biết. Không cản được nữa, thầy Sáu phàn nàn với những người đứng chung quanh thầy:

-  Bề nào thì việc cũng đã xảy ra rồi! Mấy người báo cho Dì biết làm gì? Chỉ gây thêm đau khổ cho Dì. Mấy người chẳng thấy Dì mòn mỏi vì chúng ta đó sao? Làm tội bằng những công việc hằng ngày chưa đủ sao? Mấy người còn chất thêm đau khổ cho Dì.

Lời nói và cử chỉ của thầy lúc này, khiến mọi người xúc động. Người ta vừa thương thầy, vừa thấy rõ được mối chân tình của thầy đối với vị ân nhân của mình.

Đến khi Dì Antony lật đật chạy đến thì thầy còn bình tĩnh nói:

-  Ông già vừa tặng con một mũi gai trên đầu Đức Kitô mà chắc chắn không ai có được vinh hạnh ấy. Rồi thầy tươi nét mặt nói với Dì Antony:

-  Gai thì con chịu, còn ân phúc con nhường cho Dì đó.

Bữa đó Dì Antony chưng hửng trước cử chỉ can đảm của thầy Sáu. Dì tâm sự với Chúa:

“Ngày… tháng…

Hôm nay con xin báo cáo với Chúa một câu chuyện làm con xúc động:

Con đang băng bó vết thương cho các bệnh nhân ở phòng thuốc, thì chi X. đến báo với con là thầy Sáu bị ông N. đánh bể đầu, máu chảy xối xả…

Khi nghe chuyện con hết hồn, con tự nhủ: sao lại có chuyện động trời như vậy được? Ông N. bị bệnh tê liệt thì làm sao mà đánh đấm ai được? Chắc là ông này nổi điên. Nhưng làm sao thầy Sáu bị bể đầu? Con lật đật mang đồ cấp cứu tới chỗ tai nạn, con thấy thầy Sáu rất bình tĩnh và đang tự băng bó cho mình. Nhưng điều con đáng nói nhất đã làm con hết sức xúc động là cách thầy Sáu phản ứng, nhất là tấm lòng thành thật thầy dành cho con. Chúa biết câu nói nào không?

Ông X. tặng thầy Sáu một mũi gai trong mão gai của Chúa… gai thì thầy Sáu chịu, còn ân phúc thầy dành cho con… Chúa thấy có cảm động không?  Nhưng con cũng không dám nhận ân huệ ấy đâu, con trả lại Chúa, xin Chúa cho ông X. biết nhẫn nhục, chịu đựng đau khổ và cho những người giúp ông đừng ngã lòng…”.

Mấy ngày sau khi xảy ra biến cố ấy, Dì Antony lại viết:

“… Hôm nay con xin trở lại câu chuyện con đã tâm sự với Chúa mấy bữa trước đây: Từ hôm xảy ra câu chuyện cái gai trên đầu Chúa…, con cứ tưởng giữa ông X. và thầy Sáu sẽ có sự phân cách lớn. Trái lại, Chúa ạ! Thầy Sáu vẫn tận tuỵ săn sóc ông già X... Cảm động hơn nữa là ngay khi thầy Sáu con đang băng đầu, thầy đã đến với ông X. Nói đúng ra, ông già X. khó tính và dữ quá nên ai cũng ngán ông ấy. Nhưng thật là một bất ngờ thích thú, ông già X. thấy đầu thầy Sáu băng trắng, ông già tò mò hỏi thầy Sáu:

-  Thầy Sáu tang ai vậy?

Thầy Sáu sửng người ra, thầy Sáu nói với mấy người quen: chỉ một chút nữa là tôi la lên vì ngạc nhiên. Thầy Sáu mau trí trả lời ông già X.

-  Nhân dịp giỗ ông già tôi, tôi đeo tang để cầu cho linh hồn ông được mau về với Chúa.

-   A! Ông già gọi giật thầy Sáu hỏi: muốn được về với Chúa thì phải làm thế nào thầy?  Ông hỏi tiếp: như tôi đây chết có được về với Chúa không?

Thầy Sáu tần ngần cố tạo sự căng thẳng rồi mới trả lời ông:

-  Cũng được, nhưng ông phải chịu rửa tội đã.

-  Rửa tội à! Tôi đã nói với Dì Antony nhiều lần rồi, tôi có tội gì đâu mà rửa. Rồi ông cứ luận điệu cũ lý luận với thầy Sáu, ông nói tiếp:

-  Thầy coi, người ta rửa tay khi tay bị dơ, còn tay sạch ai rửa làm gì?

Câu lý luận quen thuộc của ông làm thầy Sáu nhớ lại ý của Dì Antony trao đổi với thầy khi trao phó công tác lại cho thầy. Thầy Sáu trả lời ông già:

-  Ông nói cũng phải, nhưng có rất nhiều trường hợp tay người ta dơ mà đâu người ta có thấy.  Chẳng hạn như trường hợp tôi vừa tiếp xúc với một bệnh nhân đau mắt, tôi chưa rửa tay mà lại vô ý đưa tay dụi mắt là tôi có thể bị lây. Đó mới là một thứ bệnh, còn rất nhiều bệnh khác nữa. Như vậy không phải chỉ khi thấy tay vấy bùn, lấm đen mới cần rửa; trái lại, nhiều khi tay lấm đen vấy bùn còn đỡ nguy hiểm hơn vì ta còn thấy mà đề phòng.

Ông già X. ngẫm nghĩ một hồi rồi nói với thầy Sáu:

-  Ờ thế mà từ lâu đến giờ, tôi đã nghe Dì Antony nói và nhiều người nói, nhưng tôi chưa nhất trí. Hôm nay thầy nói tôi nghe được.

Ông quay sang nói với thầy Sáu:

-  Thầy làm ơn cho tôi gặp Dì gấp để tôi xin lỗi Dì và để Dì giúp tôi về với Chúa…

Con thuật cho Chúa nghe câu chuyện ấy để giúp con càng thấy rõ giá trị của đau khổ.  Con có thể kết luận mà không sai lầm rằng; nếu không có cái gai trên đầu Chúa, ông già X. cũng chưa chịu về với Chúa đâu…”.

Câu chuyện thầy Sáu giúp đỡ bệnh nhân trong giai đoạn này còn nhiều các nhân chứng ở đây luôn nhắc nhở, chẳng hạn câu chuyện xém làm thầy chết.

Số là một hôm, một bệnh nhân câu được con cá lớn, tay này lại là một bợm nhậu.  Có mồi rồi, người này rủ thêm bốn tay nữa cùng dự. Họ lén lút “dọn tiệc” vì luật lệ ở đây cấm uống rượu, nhất nữa họ rất ngại Dì Antony nên họ đợi cho lúc mọi người đã ngủ mới mở tiệc. Bữa tiệc được bố trí rất khéo nên không bị phát hiện, nhưng ăn vụng thế nào cũng có lúc lộ. Mồi nuốt chưa xong thì kẻ trước người sau đo ván, cả bọn không còn ai  tự chủ được nữa. Ai còn hơi sức nào là la hét, tiêu chảy, ói mửa đầy nhà. Mấy bệnh nhân khác phát hiện cấp tốc kêu thầy Sáu tới.

Việc đầu tiên thầy Sáu cấm không được ai thông báo cho Dì Antony, để Dì nghỉ ngơi. Theo yêu cầu của thầy Sáu và sự đồng tình của mọi người, không ai báo cho Dì Antony. Đàng khác, mọi người đều công nhận sự tận tâm và khả năng của thầy Sáu có thể đảm đang được công việc.

Tới nơi và quan sát hiện trường, thầy Sáu bắt tay vào việc ngay. Thầy cùng với một số y tá trong trại chạy chữa cho từng người, đầu tiên là những người nặng. Những người này chưa hết quằn quại la hét đã đến người khác la lối. Thầy Sáu làm không ngưng tay và không một phút nghỉ ngơi. Tuy nhiên, bàn tay của thầy ngắn hơn tay của tử thần, trong số năm nạn nhân thì một người đã bị tử thần lôi đi. Dầu vậy, thầy Sáu vẫn không chịu đầu hàng, thầy vẫn nhẫn nại kiên trì.  Đã có lúc người ta yêu cầu báo cho Dì Antony để Dì đối phó, nhưng thầy Sáu vẫn không nghe.  Thầy giải thích đây là trường hợp tả, Dì Antony lăn vào đây, Dì rất có thể bị lây, mà Dì bị lây cả trại sẽ nguy khốn… Vả lại, thầy Sáu cũng là một địch thủ mạnh đối với tử thần, thầy đã giữ lại được các nạn nhân. Nhưng khi các nạn nhân tạm ngưng ói tháo thì đến lần thầy Sáu. Ai cũng cho rằng thần chết quay lại trả thù thầy, vì thầy đã không để cho tử thần mang nốt bốn tiên ông đi.

Khi mặt trời vừa dậy, ánh sáng chỉ đủ để cho người ta phân biệt thầy Sáu và bệnh nhân.  Thầy Sáu vẫn chưa ra khỏi phạm trường thì thầy đã lảo đảo và té nhào ngay tại chỗ. Và thật lạ, thầy Sáu bị một căn bệnh như các nạn nhân vừa bị. Đến lúc này người ta không còn thể giữ lời yêu cầu của thầy Sáu; đàng khác, trời đã gần sáng thì Dì Antony cũng đã thức rồi. Hơn nữa việc quan trọng như thế không cho Dì biết là một thiếu sót quan trọng, nên người ta đã vội vàng báo tin cho Dì Antony sự vụ. Dì Antony biết tin vừa cảm động, vừa thương hại thầy Sáu. Đến lượt Dì Antony dùng mọi cách để ngăn chận bàn tay tử thần thò ra kéo thầy Sáu. Dĩ nhiên là đối với tử thần, Dì Antony có sức mạnh hơn thầy Sáu, nhờ vậy thầy Sáu bình phục mau hơn. Khi tỉnh lại, nhận định được Dì Antony, thầy Sáu ngạc nhiên hỏi:

-  Ai báo tin cho Dì vậy?

-  Hai ba người đã cho tin tôi.

Thầy Sáu mệt mỏi lắc đầu nói:

-  Con đã yêu cầu đừng ai báo tin cho Dì mà.

Dì Antony ngạc nhiên sửng sốt hỏi lại:

-  Tại sao vậy? Dì nói tiếp: một việc quan trọng như thế này, tại sao lại giấu tôi ?

-  Không phải vậy? Thầy Sáu đón được ý Dì Antony, thầy sợ Dì hiểu lầm ý thầy nên thầy cố bình tĩnh trả lời:

-  Con sợ Dì nhiễm dịch. Thầy nói tiếp: Dì đang đau, Dì lại bị nhiễm nữa thì trại này sẽ ra sao?

Dì Antony hết ngạc nhiên hỏi lại:

-  Còn thầy bị đây và nếu không cứu kịp…

Dì chưa nói hết câu, thầy Sáu đã nói:

-  Con có sao cũng không quan trọng gì, nhưng Dì mà đi là cả trại sẽ đi theo.

Biến cố đó làm cho cả trại nhắc nhớ và thêm lòng quý mến thầy Sáu. Riêng Dì Antony tâm sự với Chúa:

“Nhà Chúa lại vừa xảy ra một biến cố lớn nữa: một người chết, bốn người còn đang nằm liệt, và một người bị vạ lây chỉ vì một miếng ăn mau qua. Nhưng đối với con, trong mọi biến cố Chúa đều có lý. Chúa vẫn tỏ lộ tình thương của Chúa trong đó, chẳng hạn như khi Chúa trừng phạt dân riêng, không phải chỉ để cho bõ giận, bõ ghét, nhưng là dấu Chúa còn thương dân, còn muốn lôi kéo họ về với Chúa, và lẽ dĩ nhiên trong biến cố nào cũng có người hy sinh.

Ở đây cũng vậy, riêng việc ăn nhậu là một việc chẳng tốt đẹp gì, con đã ngăn chận nhiều và còn tỏ thái độ bất mãn về việc đó nữa. Vì hầu hết ở đây người ta muốn mượn chén rượu để khống chế bệnh tật, mà xét ra cùng tội người ta ghê Chúa nhỉ! Cơn bệnh đã đưa người ta đến chỗ tuyệt vọng, sống thừa, nên người ta rất bị cám dỗ mượn chén rượu để quên mình, quên cuộc sống. Nhưng họ làm như vậy, họ đã quên mất sự hiện diện của Chúa, quên đi ý nghĩa cộng tác với Chúa trong đau khổ, để các phần tử khác của Hội Thánh phát triển. Và như Chúa đã thấy đó, mấy người say sưa thường làm phiền cho Chúa và lỗi bác ái với anh em nhiều.

Như vậy trong cái biến cố này, người phải hy sinh là ông Phêrô Trần Bưởi, ông là một người tốt, nổi bật trong việc giúp những người lâm chung và ông thật đáng làm lễ hy sinh. Còn bốn người kia hẳn là hú hồn, từ nay chắc không dám nhậu nhẹt loạn xạ như vậy nữa. Ngoài ra, cũng còn là một lời cảnh cáo hiệu lực cho tất cả những người đã bị ma men nhập.

Riêng con, một lần nữa con bị xúc động mạnh, Chúa đã ban cho con những người giúp đỡ thật nhiệt tình và cao thượng. Họ luôn sợ con chết, sẽ không còn sống với họ nữa. Họ sợ không có con trại sẽ bị rã, đâu có đến nỗi như vậy Chúa nhỉ? Chết đâu có phải dễ: sợi tóc trên đầu rớt xuống cũng còn không ngoài ý Chúa, huống hồ mạng sống con người, một lâu đài của Thiên Chúa lại có thể dễ dàng phá đổ được.

Còn sự hiện diện của con ở đây, con chỉ là dụng cụ trong thời gian của Chúa. Khi mảnh vườn còn cần cái cuốc thì người chủ sử dụng. Đến lúc thu hoạch, người chủ đâu có cần cái cuốc mà đi cắt lúa. Cũng vậy, nếu Chúa muốn cho trại này tồn tại mà không có con là một điều quá dễ.

A! mà có nhiều dấu chứng cho con thấy ngày mà con bỏ trại này cũng không xa mấy đâu, cho dù các bệnh nhân như thầy Sáu không muốn. Con nói như vậy vì sức khoẻ của con hồi này kém sút quá. Cơn đau và nhức nhối hoành hành trên cơ thể của con khiến con thấy thần chết gần kề rồi… Nhưng con thật an ủi, hình như Chúa đã chuẩn bị ngày ra đi của con. Con có thể mượn hình ảnh rất đẹp để diễn tả niềm an ủi của con: mỗi lần con bước vào nhà Chúa, hình ảnh ấy lại đập vào mắt con, rồi đi vào tâm trí con và đọng lại trong lòng con. Con muốn nói đến cây bông sứ: trên thân cây hầu như không còn một cọng lá nào, chỉ toàn thấy nụ và bông sứ. Qua hình ảnh ấy con suy nghĩ, có lẽ Chúa muốn bứt hết dáng vẻ bề ngoài của con và bù lại Chúa cho hoa nở rộ. Quả vậy, con cảm nghiệm từ ngày con bị bệnh, cơn bệnh tàn phá trên thân thể con, thì Chúa lại cho con được nhiều ngừơi cộng tác vừa nhiệt thành, vừa phát triển tài năng, chẳng hạn thầy Sáu, chị L., chị T., chị C., ông B., ông H., ông X.,… Có bao giờ trại được một lực lượng nhân viên tận tâm và có khả năng như vậy đâu? Cả ban điều hành nữa, họ cũng có khả năng đấy chứ Chúa nhỉ!  Cách họ xử trí với nhân viên nhà nước khi vụ này đồn đãi có dịch tả trong trại cũng giỏi lắm đó chứ!”

Lợi dụng lúc Dì Lan vừa gấp cuốn nhật ký lại, ba góp ý liền:

-  Thực đúng là việc Chúa quan phòng Dì nhỉ! Cho nên ông bà ta đã mộc mạc nói: “Trời sinh voi, trời sinh cỏ” là vậy, nghĩa là hoàn cảnh nào có ơn Chúa hoàn cảnh đó.

-  Vâng đúng như thế đó ông! Tỷ như từ ngày chúng tôi trở lại đây thì đâu còn những người nhiệt tâm và khả năng như thầy Sáu lúc ấy.

-  Thế khi các Dì trở lại trại, thầy Sáu không làm việc nữa?

-  Vì bệnh tật thầy Sáu đâu có làm gì được nữa, và hình như cũng đến lúc Chúa trao công việc lại cho người khác, nên không riêng gì thầy Sáu mà phần đông những người giúp Dì Antony kỳ đó đều mất sức.

-  Qua bằng chứng này, dù còn do dự, chúng ta cũng phải nhận: mỗi người là dụng cụ của Thiên Chúa Dì nhỉ?

Dì Lan mỉm cười đồng ý với phát biểu của ba…, Dì đọc cho ba nghe mấy câu Thánh Vịnh Dì Antonmy ghi lại:

Chúc tụng Chúa, ngợi ca mừng danh Cha,

Ngợi khen Ngài, thân phụ Đức Kitô,

Ngài chúc lành và ban tặng cho ta

Muôn ơn phúc Thánh Linh trời cao thẳm.

Nếu hiệp cùng Đức Kitô say đắm,

Ta được Ngài tuyển chọn trước tôn nhan,

Trước cả khi vũ trụ được tạo thành,

Để trở nên tinh tuyền và thánh thiện

                                              (x. Tv 69)

Xem tiếp chương 12

Song Nguyễn