Trang chủ

Mục lục

Một Đời Dâng Hiến  

Tác giả: Song Nguyễn

 Tác phẩm của Tác giả Song Nguyễn
 

 CUỘC ĐỜI DÂNG HIẾN

Tác giả: Song Nguyễn

Chương 2

Cuộc hành trình công tác

Chuyến tàu lửa tốc hành đưa phái đoàn Caritas rời thành phố vào lúc bốn giờ chiều. Sau một hồi nổ máy gầm gừ, con tàu rú lên một hồi còi rên rỉ và ngân dài như một lời giã từ thành phố để lao vào một chuyến công tác khó khăn gian khổ. Riêng đối với ba, hồi còi hụ inh ỏi đó gây tác động mạng trên tình cảm của ba: số là từ ngày má qua đời đến nay, chưa bao giờ ba đi công tác xa và vắng nhà lâu như lần này. Hơn nữa, ba vừa phải khổ công để dỗ dành Tiến em con chịu ở nhà với ngoại. Nó cứ nằng nặc đòi theo ba, mà ba thì biết rõ cuộc hành trình này sẽ vất vả, mệt nhọc nhiều. Đàng khác, ba không muốn em con phải nghỉ học khi không đủ lý do. Nên khi tiếng còi hụ, những tình cảm ấy như dồn lên khiến ba có cảm giác đau nhói. Và quả vậy, khi con tàu từ từ rời bến, nhìn lại đàng sau ba thấy Tiến em con đang ôm chặt lấy ngoại khóc ngất đi. Hình ảnh đó làm cho ba rụng rời, không còn tâm trí nào để đi công tác nữa, và cũng từ lúc đó ba đứng ngồi không yên, cử chỉ bồn chồn của ba khiến bạn bè ba cũng phải ngạc nhiên. Họ nói: “Ba đàn bà quá”, nhưng họ đâu có ở trong hoàn cảnh của ba.

Con tàu rời thành phố cả giờ rồi và đã để lại đàng sau hàng trăm, hàng nghìn cuộc sống khác biệt. Và cũng chừng ấy công trình, nhưng tất cả đã không gây một ấn tượng nào nơi ba.  Đến lúc ba định tâm lại để cảnh vật và sự sống in ấn tượng trong tâm trí ba, thì cảnh đầu tiên đó là dòng sông mà con tàu đang chạy song song. Con sông không rộng bao nhiêu, nhưng nước sông trong vắt như nước mưa đến nỗi ba có thể nhìn thấy cả cụm rêu mọc dưới đáy sông. Hai bên bờ sông hàng dừa chạy dài, tàu lá xanh mượt, cây nào cây nấy ôm đầy những chùm trái no tròn, như muốn phô trương sức sống phong phú của mình. Vượt qua hàng dừa là cánh đồng lúa xanh chạy dài đến vô tận. Màu xanh của lúa đang độ, pha trộn với màu vàng của nắng chiều biển thành màu xanh nhạt mềm mại. Rồi mỗi lần cơn gió lướt tới, cả cái biển xanh đó nhấp nhô như những đợt sóng đuổi theo nhau chạy vút tầm mắt.

Nhìn cái cảnh quen thuộc đó ba nhớ đến con. Ba nhớ hồi con còn ở nhà với ba, không một kỳ hè nào mà con không đòi ba đưa về nội con chơi. Lý do con đòi ba rất đơn giản: để con uống nước dừa và chăm sóc cho mấy chú gà, chú vịt “kẻo tội nó”. Và trong những dịp nghỉ đó, con đã chiếm được tình cảm của những chú gà, chú vịt. Con đi đâu chúng theo đó, khiến nội con đã cho ba nhận xét. Người nói: “Con nhỏ này lớn lên cho nó đi tu để nó coi nhà trẻ là vừa đó”. Hồi đó ba giấu không cho con biết nhận xét này, chỉ vì nó đi ngược với ý nghĩ của ba. Ba không ngờ lời tiên đoán của nội con thành sự thật. Ngày nay con của ba đã đi tu và đang chăm sóc cho bầy trẻ. Sự việc này làm ba dù không tin, nhưng cũng phải nhận rằng con người ta có số. Hay nói khác đi, mỗi người đều đã có sẵn con đường mình sẽ đi vào, bằng cách này hay cách khác, nó để lộ cho người khác thấy được dấu vết.

Con tàu cứ đều đều lăn bánh trên đường rầy tạo âm thanh, lúc đầu còn gây khó chịu, nhưng dần dần trở nên quen thuộc, rồi trở thành âm thanh cần thiết trong đêm trường giữa cảnh rừng núi thâm u. Cùng với điệu nhạc ru ngủ đó, ngọn đèn trời cũng lụi dần để không gây cản trở giấc ngủ của con người. Thêm vào đó, cơn gió nhè nhẹ len lỏi vào các phòng nhỏ trên toa xe lửa, mơn trớn giấc ngủ hành khách. Và quả, mấy ông bạn cùng phòng với ba đã mau mắn đón nhận giấc ngủ. Ngồi nhìn mấy ông bạn nhẹ nhàng đi vào giấc ngủ, ba thấy họ thật có phúc “ăn được ngủ được là tiên”. Các ông tiên của ba đây hoặc là đã quá mệt mỏi vì công việc, hoặc họ đã được trời ban cho tâm hồn vô tư, bình thản trước mọi biến cố.  Trái lại, ba cũng muốn làm tiên như họ, nhưng cố gắng của ba không thành. Hễ ba nhắm mắt lại, hình ảnh Tiến em con lại hiện ra căng mắt ba. Không biết đêm nay, đêm mai và cả tuần nữa em con nó có ngủ được không? Vốn em con đã rất khó dỗ giấc ngủ, bây giờ lại không có ba… và qua Tiến, ba lại nghĩ đến con, Xu của ba khác hẳn với em con. Hồi còn nhỏ con được mệnh danh là “thiên thần ngủ”, má con đặt đâu con ngủ đó. Và có lẽ cũng do cái nết ngủ đó mà má con thương con. Người nói với ba điều ấy mỗi lần người phải khổ công dỗ giấc ngủ cho em con. Người nói: “Tôi thương con Xu, nói đỡ cho tôi lắm!”… Nghĩ đến các con, ba muốn chắp cánh bay về thăm và hôn các con của ba.

Giữa lúc ba đang chập chờn nửa thức nửa mơ, thì một tiếng hét thất thanh vang lên, tiếp theo từng chuỗi tiếng ồn ào chuyển từ toa này tới toa khác, từ tai người này tới tai người kia, người thức gọi người ngủ báo tin: “Có người tự tử”. Rồi tiếng còi xe lửa hụ vang rền, con tàu lắc mạnh, rồi từ từ giảm tốc độ. Con tàu chưa ngừng hẳn, nhiều người đã nhảy đại xuống xe chạy ngược đường đến chỗ xảy ra tai nạn. Ba cũng lao xuống không phải vì tò mò, nhưng để quan sát: ba có thể giúp gì cho nạn nhân.

Khi ba tới nơi, toán người tới trước đã vây kín nạn nhân, ba phải cố mới chen vào trong được. Trước mặt ba một tử thi bị đứt làm nhiều khúc, thịt da vung vãi khắp nơi, vũng máu tươi còn loang loáng dưới ánh trăng. Hình ảnh đó vừa đập vào mắt ba, làm ba ghê rợn đến rụng rời tay chân. Qua giây phút hoảng hốt, ba muốn bắt tay vào việc là thu gọn cái xác chết lại, cho người chết đỡ tủi thân; nhưng nhân viên an ninh xe lửa không bằng lòng, họ muốn để nguyên hiện trường cho ban an ninh địa phương làm biên bản. Đã vậy, nhân viên chuyến xe lửa tốc hành lại ra lệnh cho hành khách lên xe để kịp thời biểu đã ấn định.

Mặc dù con tàu đã rời xa chỗ xảy ra tai nạn rồi, nhưng người ta vẫn không ngớt bàn tán về sự việc: người đưa ra giả thuyết này, người đưa ra giả thuyết kia để gán ghép vào trường hợp nạn nhân. Nhưng điểm nhất trí chung: tai nạn vừa rồi không phải vô tình, nhưng nạn nhân cố ý tìm cái chết vì đã có nhiều vụ như vậy; đàng khác, nơi xảy ra tai nạn lại cách nơi dân cư sinh sống cả cây số.

Hình ảnh người thiếu nữ đang độ thanh xuân chết không toàn thân, máu me loang lỗ, thịt xương vung vãi, để lại trong tâm trí ba một cảm giác rợn rùng, nó đã đi ngược lại lời kinh ba vẫn đọc:

Luồng sinh khí Ngài vừa gửi tới,

Muôn muôn loài liền được tạo thành

Mặt địa cầu cũng được canh tân,

Vinh hiển Chúa thiên thu vạn đại

Sự nghiệp Ngài luôn mãi hân hoan.

                                 (x. Tv 103, 30-31).

Ba suy nghĩ mãi mà chưa tìm được sự hân hoan của Chúa trong cái chết tất tưởi này… Chắc chắn là Chúa có lý… Ba chỉ tiếc một điều giả như người thiếu nữ tuyệt mạng này hiểu được sự nghiệp của Chúa nơi mình, hẳn cô đâu có liều lĩnh như vậy? Nhưng làm sao mà người thiếu nữ ấy có thể hiểu được sự nghiệp của Chúa? Ba nghĩ đến con, đến những con người tận hiến cho Chúa, và chỉ có những con người như thế mới có thể làm cho người thiếu nữ này, cũng như còn muôn vàn người khác nữa hiểu được tình thương của Chúa. Ba nghĩ đến tất cả những người giờ phút này đang quan tâm đến nhân vị của con người, đến những nhà lãnh đạo các quốc gia đang đổi hạnh phúc mình để xây dựng hạnh phúc cho đồng bào.

Cái chết của người thiếu nữ cũng còn nhắc ba nhớ lại trong bản báo cáo thuờng niên gửi đến cơ quan của ba. Ba được biết số thiếu nữ tự tử chiếm đến 3/4 tổng số. Con số này cũng cho ba thấy người thiếu nữ đang lúc yêu nhiều thì cũng lại thất vọng nhiều. Ngoài ra, còn một bằng chứng nữa để ba thấy kết luận này đúng: mới đây ba được gặp một Dì phước lo cho các thiếu nữ hoàn lương, bà cho ba biết trong hơn một năm về giúp trường, bà đã cứu sống và ngăn chặn được mấy chục vụ toan tự tử hoặc mới tự tử. Qua câu chuyện này, ba càng thấy thế giới này cần rất nhiều những tâm hồn sống tận hiến, dám liều sự sống của mình để cứu sống lớp người chán sống đang mỗi lúc mỗi đông.

Mãi suy nghĩ về người thiếu nữ tuyệt mạng, ba rơi vào giấc ngủ lúc nào không hay. Đến lúc bị hơi lạnh ập xuống ba giật mình tỉnh dậy, nhìn vào đồng hồ đã khá muộn, thế nhưng bên ngoài trời vẫn còn tối. Ba sợ đồng hồ của ba chạy sai, ba hỏi ông bạn bên cạnh. Thay vì trả lời ba, ông chìa tay cho ba coi chiếc đồng hồ của ông, ba thấy hai chiếc đồng hồ cùng một thời khắc.  Cám ơn ông bạn rồi, ba định chồm dậy đẩy cửa sổ ra coi. Ba chưa kịp hành động đã bị ông bạn phản đối liền, ông nói: “Xe đang chạy qua lòng quả núi”.

Nghe ông nói ba giật mình nhớ ra. Con tàu xuyên Việt sẽ chạy qua nhiều quãng đường lòng núi. Quãng đường xuyên núi chẳng lấy gì làm dài lắm, nhưng cũng đủ giúp ba thấy được trí óc và công trình to lớn của con người cách đây mấy chục năm. Con người nhỏ bé và yếu đuối, chỉ một hòn đá nhỏ vô tình rớt vào cũng đủ cướp mất sự sống; nhưng với khối óc và sức mạnh, con người có thể đục xuyên qua cả quả núi vĩ đại theo ý muốn. Nhưng đó là chuyện lâu rồi, còn ngày nay, con người đã tiến tới chiều cao của sự tiến bộ: con người không phải chỉ đục qua núi. Chuyện đục núi là chuyện quá thường. Người ta đã có thể khám phá được đáy sâu đại dương và bề mặt các hành tinh xa xôi.

     Nhưng về lĩnh vực tinh thần, chuyện cổ hơn đục núi là tâm hồn con người, thì hình như nhân loại mỗi ngày mỗi đi lùi, số người chán đời đang tăng theo cấp số nhân. Ngược lại, những người tận hiến để giải thoát con người đang mỗi ngày mỗi giảm sút hoặc đã mất đi sự nhiệt thành lúc ban đầu.

Giữa lúc ba đang ngồi suy tư thì ông bạn hồi nãy phản đối ba về vụ đẩy cửa sổ phòng ngủ, giờ ông muốn lấy lại cảm tình với ba, ông đứng ở cửa sổ ngoắc ba ra cửa sổ để nhìn cảnh vật con tàu đang vượt qua. Ba hưởng ứng lời đề nghị của ông liền và ông đã làm ba rất hài lòng. Ngoài những điều được nhìn thấy tận mắt, ba còn được ông truyền đạt cho ba những kiến thức uyên thâm của ông về phong cảnh và tài nguyên đất nước. Trước đây ba chỉ biết một cách tổng quát đất nước ta giàu vì có nhiều tài nguyên dưới lòng đất, dưới biển cả, trên rừng, dưới ruộng… nhưng ba chưa hiểu được như ông. Qua câu chuyện của ông, ba vừa tự hào có quê hương giàu đẹp, vừa hy vọng rồi đây nhân dân ta sẽ được ấm no hạnh phúc, vừa gắn bó chặt chẽ với con người đồng chủng. Nhưng đồng thời cũng đặt ra trước mắt ba một nghĩa vụ: ba phải đóng góp gì cho hạnh phúc thật của đồng bào. Hạnh phúc đó, theo ba, không ngoài hạnh phúc tâm hồn. Nhưng hạnh phúc này ba chỉ có thể đóng góp được rất ít. Ba hy vọng vào con, vào những tâm hồn đang quảng đại tận hiến cho Chúa và phục vụ con người.

Sau một ngày một đêm lầm lũi, mệt mỏi trên quãng đường dài hàng ngàn cây số, chuyển vận hàng trăm người và hàng tấn đồ vật, con tàu dừng lại ga Qui Nhơn. Cũng như hầu hết các ga khác, con tàu chỉ dừng lại thời gian vừa đủ cho hành khách lên xuống, rồi lại tiếp tục cuộc hành trình của mình mà không cần nhớ đến ai là người mà con tàu đã cưu mang. Ba nghĩ đến những người làm việc bác ái tâm hồn. Họ cũng giống như con tàu, cố gắng miệt mài đem hạnh phúc đến cho người khác mà không đòi hỏi họ phải nhớ ơn. Phải chi những con người như thế này có nhiều thì nhân loại chẳng được nhờ lắm sao?

Bước xuống xe lửa, ba chưa có đủ thời giờ để thấy hết được cảnh trí nên thơ của khu nhà ga. Cảnh thiên nhiên ưu đãi đã vậy, những người dân ở đây cũng đóng góp nhiều làm cho cảnh trí của nhà ga trở thành một địa điểm khó quên đối với khách đã một lần qua ga. Giữa lúc ba ghi lại những nét đẹp đầu tiên vào ống kính, thì phái đoàn địa phương đón phái đoàn trung ương từ từ tiến lại sân ga.

Ông Chủ tịch Caritas tỉnh vừa thấy phái đoàn, ông giơ hai tay lên trời nói bô bô:

-  Kính chào quý vị!

Ông siết tay từng người, đến gặp ba ông nói:

-  Quý vị đã trễ hẹn chúng tôi gần hai tiếng đồng hồ. Mời quý vị lên xe.

Nói với ba xong, ông vỗ tay ngoắc mấy chú tài chạy xe vào sân ga để đón phái đoàn. Ba bước lên chuyến xe chót với ông. Thấy ông vẫn niềm nở, không có ý gì là phiền hà vì sự chậm trễ của phái đoàn, ba hỏi:

-  Ông Chủ tịch không giận về sự chậm trễ của chúng tôi đấy chứ?

Ông vẫn vui vẻ niềm nở, đập vào vai ba, ông nói:

-  Xe cộ mà bác. Ngưng một lát, ông nói tiếp:

-  Được! Tôi sẽ bắt các ông bồi thường sự chờ đợi của chúng tôi.

-  Bồi thường? Ba mỉm cười nhắc lại.

-  Dạ, đúng!

Ba trợn mắt ngạc nhiên chưa hiểu ông nói gì. Nhưng như đã tạo được sự chú ý của ba, ông bình tĩnh nói:

-  Tôi yêu cầu phái đoàn ở lại đây thêm mấy ngày…

Ba gật gù tỏ lòng biết ơn sự hiếu khách của ông. Giữa lúc đó đoàn xe lượn qua công viên dẫn vào tỉnh, ba có dịp được nhìn thấy hết đoàn xe đón phái đoàn. Qua đây, ba thấy cơ quan tỉnh đã dành cho phái đoàn của ba một cuộc tiếp rước đặc biệt. Ngoài số xe chở phái đoàn là những xe tốt nhất của tỉnh, còn có xe mở đường và xe hộ tống y như kiểu cách dành cho các thượng khách.  Ba thầm nghĩ: đi làm việc bác ái mà khua chiêng đánh trống như thế này mất hết ý nghĩa rồi, nhưng có lẽ ban tổ chức nghĩ khác: họ muốn nói lên lòng hiếu khách đặc biệt của địa phương và cũng có phần gây cảm tình tốt với phái đoàn. Có lẽ cũng vì tính hiếu khách và gây cảm tình với phái đoàn, đoàn xe đưa rước phái đoàn được hướng dẫn qua những con đường lớn và những thắng cảnh ngoạn mục của tỉnh trước khi vào tòa hành chánh để chào thăm vị đầu tỉnh.

Sau phần thủ tục xã giao, phái đoàn của ba được đưa về khách sạn nghỉ đêm. Khách sạn này nằm gần hải cảng. Tới khách sạn, ba chỉ ở lại đây vừa đủ thời gian để nhận phòng rồi vội vã ra hải cảng để nhìn cảnh hoàng hôn.

Hẳn là con đã có học qua, hải cảng ở đây là một trong những hải cảng lớn và đẹp của đất nước: hải cảng vòng sâu vào đất liền giống hình cái tai người, hai đầu là hai quả núi nhô hẳn ra biển, khoảng cách hai trái núi không xa lắm, từ bên này có thể nhìn thấy rõ bên kia, nhưng càng lùi vào trong bờ biển càng hoắm sâu và mở rộng. Do đặc điểm này mà hải cảng có giá trị.

Ba đã đứng rất lâu giờ ở đây để nhìn cảnh mặt trời từ từ chìm xuống mặt nước và cảnh sinh hoạt hải cảng lúc buổi chiều. Ở thành phố hải cảng đang có tương lai mở rộng này, tại đây và vào lúc này là lúc vui nhộn nhất, vì sau một ngày làm việc dưới cái nắng gay gắt miền cao nguyên, người ta ưa tìm ra bãi biển để hóng gió. Có lẽ cũng vì thế mà hải cảng mỗi lúc mỗi được chỉnh trang. Dọc theo hải cảng hầu như không còn những tảng đá nằm ngổn ngang nữa, trái lại là những vách đá được xây cất kiên cố để chịu đựng được với đợt sóng dồ. Ngoài ra còn những bãi đậu xe đủ loại và rất nhiều cầu tàu để vận chuyển đồ đạc lên xuống. Bên ngoài cầu tàu từng hàng tàu lớn nhỏ đủ cỡ thả neo chờ đợi. Trong khi đó từ xa không thiếu gì những con tàu đang chực chỉ hải cảng để tiến vào, và hàng chục con thuyền nhỏ đánh cá, khi ẩn khi hiện dưới làn sóng nhấp nhô, làm cho hải cảng càng thêm sầm uất hơn.

Từ lâu ba đã được nghe nói về hải cảng này, hôm nay ba mới được nhìn tận mắt, nó đẹp và hấp dẫn hơn nghe nói nhiều con ạ. Và chính lúc đứng đó, ba nghĩ đến con. Phải chi con của ba có mặt ở đây vào lúc này, hẳn ba sẽ làm một bài thơ ca ngợi hải cảng thời danh này. Kể ra, không biết chuyển đạt cho người khác những cảnh đẹp, những công trình của thiên nhiên và của con người cũng là một khuyết điểm lớn con nhỉ! Thế nhưng không làm cho người ta thấy được vẻ đẹp của tâm hồn còn khuyết điểm hơn có phải không Xu? Con đang có điều kiện trở thành các kỹ sư tâm hồn, con ráng trở thành một kỹ sư lớn. 

Theo chương trình dự liệu sáng hôm sau, phái đoàn sẽ đến trại cùi trước; nhưng vì một trở ngại vào phút chót, cơ quan tỉnh phải thay đổi chương trình. Phái đoàn được hướng dẫn đi thăm một số công trình và thắng cảnh của tỉnh.

Cơ sở phái đoàn được đưa đến thăm đầu tiên là bệnh viện miễn phí. Bệnh viện nằm ở cuối hải cảng, dự án cho hơn hai trăm giường bệnh với một số tiện nghi tương đối đầy đủ dành riêng cho giới lao động, thợ thuyền. Tất cả tổn phí xây cất và chi phí thuốc men… đều do cơ quan từ thiện công giáo đài thọ. Và khi hoàn thành bệnh viện được trao cho các bà Dòng Thánh Tâm chăm sóc. Hiện nay bệnh viện chưa hoàn thành, tuy nhiên đã có mặt một số dì phước trong ban điều hành.

Được nghe bác sĩ trưởng ty y tế, ông trưởng ty xã hội và Dì giám đốc bệnh viện thuyết trình về cơ sở, ba rất hài lòng. Vì rồi đây một số lớn những người nghèo có được nơi nương tựa, không bị bỏ quên như từ trước, nhất nữa họ lại đuợc các bàn tay nhân ái và tấm lòng hiền mẫu chăm sóc thì yên ủi cho họ biết chừng nào. Và nếu chỗ nào cũng có nhà thương như thế này, thì giới nghèo giảm đi những cảnh tang tóc thảm thương, nhất là giữa lúc chiến tranh loạn lạc này.

Rời bệnh viện Thánh Gia, phái đoàn được đưa trở ra con đường chạy dọc theo hải cảng.  Con đường lúc này thật là tắc nghẽn, mặc dù đoàn xe của phái đoàn đã có xe mở đường, nhưng cũng không thể tiến nhanh được vì xe ra vào hải cảng không ngớt - coi như hải cảng cung cấp dụng cụ chiến tranh, dàn dựng và lương thực cho khắp vùng hai. Ngoài ra, còn đủ loại xe cộ chạy lui chạy tới lo công chuyện riêng tư. Khi xe của phái đoàn đến gần cầu chính của hải cảng thì buộc lòng phải dừng lại, vì những xe vận tải lớn, cồng kềnh đang từ bãi xe đi ra, xe chở những trái bom ngang gần bằng lòng xe. 

Khi nhìn thấy những thứ vũ khí giết người kinh khủng ấy, ba thấy thắt ruột lại. Ba thầm nghĩ: chỉ một trái bom này liệng xuống đâu, thì cái bệnh viện mà ba vừa có dịp ghé thăm liệu có đủ chỗ chứa hết nạn nhân không? Ngoài ra, còn biết bao nhiêu hậu quả khốc liệt khác nữa. Bất chợt ba nhớ đến một tác phẩm của một nạn nhân bom nguyên tử sống sót thuật lại làm cho ba thấy rợn người. Phải chi người ta dành số tiền chế trái bom nguyên tử, hay những trái bom khác để lập các bệnh viện hoặc để giúp huấn luyện, giúp đỡ những người làm công tác bác ái, có phải nhân loại được hạnh phúc hơn lên không? Đàng này, bác ái thì nhỏ giọt, còn tàn phá thì như nước lũ. Hẳn khi nhìn xuống trái đất, thấy những con người và cách người ta đối xử với nhau, Chúa phải thở dài con nhỉ?

Phải mất khá lâu đoàn xe mới thoát ra khỏi con đường ruột của thị xã để đi vào một con đường nhỏ hơn dẫn tới đầu bên này của hải cảng. Khu bên này hầu hết là những lâu đài cổ, kiên cố nhưng cục mịch. Tuy nhiên nó là cái nôi của thành phố. Đoàn xe chạy hết dãy phố cổ, men theo con đường dốc lên núi một quãng khá xa, đoàn xe dừng lại để phái đoàn lên viếng mộ thi sĩ Hàn Mặc Tử, một nạn nhân đáng thương.

Trước khi nhập phái đoàn tham gia cuộc thăm viếng này, ba đã nghĩ đến quê hương của thi sĩ Hàn Mặc Tử. Ba đã hãnh diện vì được làm người đồng tín ngưỡng với ông. Ba cũng có ước vọng được nhìn thấy phần mộp của ông, và bây giờ ba đang đứng ở phần mộ đó.

Nếu cho rằng đây là một sự an ủi cho người quá cố đau thương, thì có lẽ đây là một sự đền bù. Mộ của thi sĩ được đặt ở quả núi nhô ra biển, gia đình ông đã vận động lựa cho ông một nơi yên nghỉ lý tưởng: ban ngày đầy bóng mát và ban đêm đầy ánh trăng. Từ đây, thi nhân có thể nhìn bao quát hải cảng và thấy tận xa cảnh sinh hoạt trên mặt biển, và cũng từ đây, thi nhân có thể nhìn bao quát cả thành phố sinh hoạt dưới chân thi sĩ. Riêng bia mộ của thi nhân được xây dựng trên một phần núi khá rộng, bằng phẳng và cây cối cũng được trồng lại hoặc đã được chỉnh trang để làm đẹp cho phần mộ.

Phía đầu phần mộ của thi nhân có dựng một cái đài nhỏ bằng đá quý giống như loại đá phần mộ. Trên đó đặt tượng Đức Mẹ Đồng Trinh, Người mà thi nhân yêu quý nhất đời và cũng chính nhờ Người mà thi nhân đã tìm được niềm an ủi trước những đau đớn tàn phá thân thể của ông. Dưới chân Đức Mẹ còn ghi lại những dòng thơ của thi nhân đã sáng tác để tôn vinh Đức Mẹ:

Maria! linh hồn tôi ớn lạnh!

Run như run thần tử thấy long nhan

Run như run hơi thở chạm tơ vàng

Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến…

Tấu lạy Bà, Bà rất nhiều phép lạ

Ngọc như ý vô tri còn biết cả

Huống chi tôi là Thánh Thể kết tinh

Tôi ưa nhìn Bắc Đẩu rạng bình minh

Chiếu cùng hết khắp ba ngàn thế giới

Sáng nhiều quá cho thanh âm vời vợi

Thơm dưỡng bao cho miệng lưỡi không khen

Hỡi Sứ Thần Thiên Chúa Gabriel

Khi người xuống truyền tin cho Thánh Nữ

Người có nghe xôn xao muôn tinh tú?

Người có nghe náo động cả muôn trời?

Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời?

Để ca tụng bằng hoa hương sáng láng

Bằng tràng hạt, bằng sao mai chiếu rạng

Một đêm xuân là rất đỗi anh linh?

Đọc hết mấy vần thơ của thi sĩ Hàn Mặc Tử, ba như người vừa bị đánh thuốc mê. Ba thương cảm cho thi nhân phải mang cơn bạo bệnh dữ dằn nhất của nhân loại, trùng bệnh rúc rỉa nhậm gấm thân xác, từng phần thân thể mỗi ngày mòn mỏi dần, cái chết có thể nhìn thấy luôn luôn. Nhưng có lẽ đau đớn tủi nhục nhất là sự xa tránh của đồng loại, ngay cả đến những người thân tín nhất cũng lẫn tránh xua đuổi, đến nỗi thi nhân đã lén lút sống bụi bờ ở phần đất này dòng dã nhiều năm trước khi chịu khuất phục cái chết trong trại cùi. Những dòng thơ của thi sĩ làm ba xúc động. Thi nhân đã tìm được niềm an ủi vô biên ở nơi Đức Nữ Đồng Trinh. Tựa bài thơ mà thi nhân đã chọn cũng là để tôn vinh Đức Mẹ. Hẳn là khi sáng tác bài thơ này, thi nhân đã tìm thấy ở nơi Đức Mẹ một người mẹ đau khổ nhất trần gian. Mặc dù đau khổ, nhưng Người không ngã quỵ; trái lại, Người vẫn nương tựa vào Chúa và can đảm đón nhận ý Chúa. Xin vâng, đó là phương châm của đời Người, và khi ca ngợi Đức Mẹ, thi nhân cũng đã tìm được sức mạnh để phấn đấu với bạo bịnh và tủi nhục.

Rời phần mộ Hàn Mặc Tử, ba còn được đi thăm lầu ông Hoàng, nơi nghỉ mát của vua chúa triều Nguyễn, thăm làng Võ Tánh - một vị anh hùng của dân tộc, thăm tháp Chàm - di tích của dân tộc Chàm đã một thời có mặt trên đất nước này và đã đóng góp không nhỏ cho nền văn minh tổ quốc. Những công trình của họ để lại, đã nói rõ trình độ văn minh của họ. Tuy nhiên tất cả có đẹp, có tính cách lịch sử thật; nhưng đã không đánh át được tình cảm của ba đã gặp ở nơi phần mộ thi nhân Hàn mặc Tử. Qua việc thăm viếng hiếm hoi này đưa đến cho ba một kết luận:

Kìa thiên hạ thấy người khôn cũng chết,

Đứa cơ bần dại dột cũng tiêu vong (Tv 108).

Nhưng hơn nhau trước mặt Chúa: đó là công phúc mỗi người mang về đời sau. Mà công đáng ca ngợi nhất phải là công của những người dạy cho người ta biết Chúa. Thánh Kinh nói họ nên như những vì sao sáng chói trên nền trời.

Xem tiếp chương 3

Song Nguyễn