Trang chủ

Mục lục

Một Đời Dâng Hiến  

Tác giả: Song Nguyễn

 Tác phẩm của Tác giả Song Nguyễn
 

 CUỘC ĐỜI DÂNG HIẾN

Tác giả: Song Nguyễn

Chương 4

Chứng tích cụ thể

Sau ít phút nghỉ giải lao và trao đổi, ban điều hành trại muốn đưa phái đoàn đi tham quan trại để phần đóng góp cho những dự án của ban điều hành được cụ thể hơn. Riêng phần ba, ba rất hoan nghênh vì mục đích cuộc hành trình của ba vào đây là được xem tận mắt nhữngvị ân nhân” của dân tộc, của nhân loại và của chính ba như thế nào (như ba đã nói với con: bệnh tật của những bệnh nhân là những đau khổ, đáng lý ra mọi người phải chịu vì tội lỗi…). Cũng chính vì ý tưởng đó nên trong phần điều trần, ba không được hứng khởi lắm.

Khi đã căn dặn một số điều cần thiết, phái đoàn được hướng dẫn đi tham quan. Trước nhất một Dì trong Ban Giám Đốc chỉ dẫn tỉ mỉ cho phái đoàn rõ cách bố trí trong trại: Dì chỉ vào mô hình trại, trình bày tổng quát vị thế tổ chức trong trại. Qua mô hình ba đã biết được đại cương về trại, một lần nữa ba rất cảm phục các vị sáng lập: cách tổ chức xếp đặt thật khoa học. Đáng kể nhất là khi thành lập, các ngài đã dự trù cho trại cả trăm năm sau. Đồng thời với sự cảm phục ấy, ba càng có thiện cảm với các vị thiên thần của Chúa. Dì đứng giữa phái đoàn đang chỉ trỏ, hướng dẫn và giải đáp những thắc mắc của những người muốn biết thêm. Quả thật, Dì như một vị thiên thần giáng thế: từ bộ trang phục trắng tinh không một vết nhơ đến khuôn mặt tươi mát đầy duyên dáng, nụ cười tươi xinh, nhất là cặp mắt đẹp tuyệt trần long lanh trong sáng, phản ánh lòng nhân hậu của Dì. Lời Dì thuyết minh lại có một sức hấp dẫn lôi cuốn, ba có cảm tưởng rằng để yên ủi những “vị anh hùng” của Chúa, nên Chúa đã sai các vị sứ giả của Ngài đến ở giữa họ.

Thuyết minh xong, phái đoàn được hướng dẫn đi tham quan. Cùng đi với phái đoàn có ban điều hành và một số Dì. Khu tham quan đầu tiên là khu nhà tập thể. Trên lối vào khu tập thể, cảnh tưng bừng nhộn nhịp ồn ào lại diễn ra, bệnh nhân đổ ra hai bên đường vẫy chào, nổ pháo, chụp ảnh y như ngày hội lớn. Ba ngạc nhiên hỏi Dì đi bên cạnh ba:

-   Khong khí ở đây tưng bừng quá Dì nhỉ?

Dì vừa giơ tay quạt quạt khói pháo, vừa mỉm cười trả lời ba:

-   Bệnh nhân ở đây hiếu khách lắm! Ngưng một lát như để cho khỏi sặc vì khói pháo, Dì nói tiếp: ở đây ít khi có người lạ vào thăm, nhất nữa là phái đoàn trực tiếp liên quan đến đời sống của họ.  Vì vậy họ mừng lắm.

Hiểu được ý Dì và phần nào hiểu được lý do tại sao họ đã dành cho phái đoàn từ lúc đến đây những cử chỉ nồng hậu như thế. Ba hỏi tiếp:

-   Thưa Dì! Bệnh nhân biết phái đoàn đến đây lâu chưa ạ?

-   Gần cả tháng rồi.

-   Gần cả tháng! Ba nhắc lại và tròn mắt nhìn Dì.

Dì cúi mặt xuống đi chậm lại. Ba đoán là Dì cảm động về sự ngạc nhiên của ba. Dì mỉm cười giải thích:

-  Thực sự thì tin chính thức mới được một tuần; nhưng trước kia, khi đi lãnh đồ cứu trợ, Dì phụ trách lương thực có thông báo cho trại cách bán chính thức là trung ương có dự định đến thăm trại.

-   Nhưng sao họ có nhiều pháo thế Dì?

-   Một phần trại cung cấp, một phần trại mua riêng, phần do thân nhân tặng họ trong dịp Tết họ đốt chưa hết.

-   Có lẽ bệnh nhân thích đốt pháo lắm hả!

-   Gần như vậy. Hình như trong tiếng nổ và khói pháo có một cái gì làm cho bệnh nhân thích thú đến gần như mê.

Câu trả lời của Dì gợi lên cho ba một suy nghĩ: tại sao bệnh nhân lại thích đốt pháo? Phải chăng tiếng nổ chát chúa đùng đoàng của pháo đánh thức được cảm giác chết chóc đen tối mà bệnh nhân thấy trước mắt hay tiếng nổ đó đánh tan đi cảnh u ám chết chóc? Còn khói pháo nồng nặc pha mùi diêm sinh như đưa bệnh nhân vào cảm gic đê mê trong giây lát, hay la còn cái gì trong tiếng pháo mà ba đoán chưa ra? Hay cũng có thể là để bệnh nhân nói lên cảm tình nồng hậu muốn dành cho những người mà các bệnh nhân cho là ân nhân của họ.

Qua một đoạn đường ngắn từ hội trường dẫn đến khu tập thể, phái đoàn được hướng dẫn vào thăm khu dành cho các thiếu nữ bệnh nhân: gồm một căn nhà trệt thoáng mát, sơn quét trắng tinh chạy dài hàng trăm thước, được chia làm nhiều phòng. Phòng đầu tiên ba bước vào là phòng ngủ. Bước vào phòng ngủ ba phải ngạc nhiên đến sửng sốt, vì nó hoàn toàn nằm ngoài trí tưởng tượng của ba: giữa nhà hai hàng giường song song, giường nào giường nấy có nệm cao, trên trải một tấm ra trắng tinh phủ luôn cả gối mùng mền. Nhưng điều ngạc nhiên nhất đó là chủ nhân đứng ở đầu mỗi giường, tuổi các bệnh nhân không chênh lệch bao nhiêu, đều là các cô chưa có gia đình. Điểm giống nhau nữa là các cô ăn mặc như nhau: áo bà ba trắng, quần đen và cô nào cô nấy nước da bóng, đỏ hồng.

Ba ngạc nhiên hỏi nhỏ Dì đi bên cạnh:

-   Các cô này đau làm sao?

Dì lui lại gần ba nói nhỏ chỉ đủ ba nghe. Dì nói:

-   Các cô đây cũng cùng một thứ bệnh như mọi người ở đây, nhưng có điều là bệnh chưa phát.

Ba gật gù đón nhận lời giải thích của Dì. Ba nói thêm:

-   Nếu gặp các cô ở chỗ khác, không ai có thể biết các cô bị bệnh nan y.

-  Phải! Ngải nói đúng, chỉ có bác sĩ và các nhà chuyên môn mới thấy được. Dì hạ giọng nói: nhưng nếu quý ông để ý sẽ thấy vành tai các cô khác tai những người thường.

Theo lời giải thích của Dì, ba để ý quan sát và thấy đúng; tai cô nào cô nấy xưng lên, và rồi ba chưa kịp hỏi thêm, Dì nói tiếp:

-  Trước khi bệnh phát, các cô rất đẹp gần như những đoá hoa trổ hết sắc để rồi tàn lụi dần.

Hình ảnh rất đúng Dì vừa nói làm ba thấy lạnh người. Trước mắt của ba đây hàng chục thiếu nữ, những tạo vật siêu đẳng của Chúa đang độ xuân sắc. Bình thường ra với độ tuổi này, họ đang là những lời ca tuyệt tác của Đấng Tạo Hoá và là những nét son trong bản ca của con người, của gia đình họ; thế mà họ đã bị đưa vào đây ngoài ý muốn để rồi chỉ trong một thời gian ngắn sẽ nhìn thấy cái chết dần mòn trên thân thể mình. Giữa lúc ba đang bị xô đẩy trước những suy nghĩ về các cô, ba đi ngang qua một cô, cái nhìn của cô đã làm ba xúc động mạnh: cô nhìn ba với tất cả lòng trìu mến. Ba nhớ đến những lúc trước kia, khi con tâm sự với ba, cái nhìn của con nói hơn là những lời con nói và ba đã dừng lại trao đổi với cô. Ba có hỏi thăm cô về quê quán, về hoàn cảnh gia đình, nhưng cô khóc nhiều hơn nói đến nỗi Dì đi bên cạnh ba phải can thiệp, Dì nói:

-   Kìa Tuyết Lan, con trả lời ông đi chứ!

Cô vẫn trả lời câu được câu không, hầu như Dì phải nói thay cô. Tuy nhiên, vì đi chung với phái đoàn ba không có nhiều thì giờ để an ủi cô. Lúc ba đang tính chào thăm cô lần cuối thì cô vừa nấc vừa nói với ba:

-   Bác cầu cho cháu được như em cháu!

Ba ngạc nhiên không hiểu cô nói gì! Ba quay sang định hỏi Dì ý cô muốn nói gì, nhưng ba chưa kịp phát biểu, Dì đã đoán được ý ba nên Dì trả lời:

-  Cô ấy xin ông cầu nguyện cho cô, để cô cũng được khỏi bệnh như em cô là Mai Liên.

Ba vội quay lại cô, gật đầu Ba nói:

-   Được! Tôi hứa sẽ cầu nguyện cho cô.

Rồi trong khi bước vội đi theo phái đoàn, ba nêu thắc mắc với Dì hướng dẫn. Ba muốn biết về trường hợp cô Mai Liên, em cô Tuyết Lan được khỏi bệnh như thế nào. Ba hỏi:

-  Tôi nghe nói bệnh cùi là bệnh nan y mà Dì?

-  Phải! Nhưng trường hợp của em Mai Liên là trường hợp ngoại lệ.

-  Ngoại lệ?

-  Phải! Vì không phải nhờ thuốc men, nhưng là nhờ một ơn lạ.

Ba càng ngạc nhiên hơn nữa khi nghe Dì nói cô Mai Liên được khỏi bệnh nhờ ơn lạ. Nhưng như đoán được ý ba, Dì trả lời:

-  Câu chuyện em được khỏi bệnh rất dài. Nhưng nói một cách tổng quát: trước kia em Mai Liên bị bệnh phong cùi phải đưa vào điều trị trong này. Vào giữa thời kỳ giặc giã, thuốc men thiếu thốn, nhưng đến khi một Dì duy nhất coi trại chết thì em được khỏi bệnh. Ngày nay đến lần cô chị b bệnh, vì vậy cô xin mọi người cầu nguyện cho cô, để cô được khỏi như em cô.

Ra khỏi khu nhà ngủ, phái đoàn được hướng dẫn vào phòng tiểu thủ công nghệ. Một số tay nghề đang sinh hoạt mẫu trình diễn cho phái đoàn coi. Chỗ thì mấy khung vải đang lách tách dệt, bên cạnh mấy máy nhỏ đang lè xè sang sợi; chỗ khác mấy khung dệt nệm đang luồn cói, tiếng đập đều đặn như máy giữ nhịp hát. Chỗ nhà may, phòng này tương đối nhộn nhịp hơn: kẻ đo, người cắt, người may. Nói một cách chung những người sinh hoạt trong khu tiểu công nghệ này đều có những nét giống nhau, ăn mặc gọn gàng và con người cũng tương tự như cách ăn mặc, nghĩa là sạch sẽ, chăm chỉ và rành nghề. Tuy nhiên ba thấy họ có một nét đặc biệt, không biết có phải vì cái nhìn chủ quan của ba không, đó là tia mắt đượm buồn của họ. Những yếu tố yên ủi bên ngoài đến với họ, chẳng hạn như cuộc thăm viếng của phái đoàn hôm nay, khơi dậy niềm vui của họ trong ít phút để rồi lại trở về với đời sống tàn lụi…

Tiếp liền với phòng tiểu thủ công nghệ là nhà kho chứa vật liệu dự trữ cho công nghệ, rồi đến phòng giải trí. Cách bày biện trong phòng giải trí rất nghệ thuật. Nhìn cách trưng bày ba nhớ đến lời Dì phước đang băng bó vết thương cho bệnh nhân: một người đang được băng bó đàng sau, còn hàng chục người nối đuôi chờ đợi. Tia mắt các bệnh nhân đều hướng thẳng về bàn tay nhân ái của Dì. Còn Dì phước, hiện thân của tình thương bác ái, nơi Dì toả ra những nét mềm mại dịu dàng vừa hấp dẫn vừa an ủi. Chính bức họa này đã một lần làm ba xúc động, và khi bước vào đây ba đã lồng hình vẽ với người thật để trao đổi với Dì hướng dẫn ba. Ba không ngờ bây giờ lại gặp bức vẽ đó ở đây. Ba thắc mắc không biết Dì phước đang đi với ba có còn nhớ câu chuyện ba nói với Dì về bức họa không? Ngoài ra ba còn thấy nhiều hình ảnh rất có ý nghĩa nữa: đó là chân dung các vị sáng lập hoặc đã đóng góp cho trại cùi này.

Cũng tại phòng giải trí này, ba còn thấy dàn nhạc của trại, nào đàn ghi-ta, măng-đô, trống, dương cầm… Và theo Dì cho biết, ban văn nghệ của trại có nhiều tay đàn xuất sắc, sử dụng đàn rất thành thạo. Và cũng nhờ những “nghệ sĩ” này, nhân dân trong trại được hưởng những giờ phút giải trí thoải mái.

Ba đi chậm lại vừa quan sát dàn nhạc vừa góp ý với Dì:

-  Thật là tuyệt diệu Dì nhỉ!

Có lẽ Dì chưa hiểu ý ba nói tuyệt diệu cái gì, nên Dì sửng sốt hỏi lại ba:

-   Ngài nói cái gì tuyệt diệu?

Ba mỉm cười giải thích ý nghĩ của ba:

-  Trong hoàn cảnh này, các nghệ sĩ bệnh nhân vừa tìm giải khuây trong tiếng đàn tiếng hát, vừa giúp các bệnh nhân khác cùng được giải trí thì thật là ý nghĩa và đáng khích lệ. Ba nói tiếp: có lẽ Chúa cũng ban ơn đặc biệt để trại còn có các nghệ sĩ làm vui cho trại…

Ở đây chúng tôi có một “nhạc trưởng” chơi dương cầm khá lắm. Dì giới thiệu với ba như vậy.

-  Có phải Dì nói là ông ta vừa chơi dương cầm vừa điều khiển dàn nhạc.

-  Dạ! Phải! Nhưng người nhạc trưởng của chúng tôi hơi đặc biệt, nghĩa là ông là một thiên tài hơn là được học hỏi chỉ dạy.

-   Như vậy ông ta biết được nhiều thứ đàn?

-   Gần như vậy. Nhưng đặc biệt là đàn dây.

Vừa lúc ấy có một người đàn ông, dáng đi hơi nặng nề tiến lại chỗ để nhạc cụ, ông cúi đầu chào ba. Dì phước giữ ông lại và giới thiệu với ba:

-   Xin giới thiệu với ông: đây là “nhạc trưởng”.

Ông nhạc trưởng ghé đầu, tròn mắt mỉm cười:

-   Hân hạnh được biết ông.

Ba đáp lễ và trao đổi với ông:

-  Tôi được nghe Dì giới thiệu và bây giờ được gặp nhạc trưởng. Thật là may mắn cho tôi!  Tôi rất khâm phục nhạc trưởng. Nhạc trưởng thật là một vị ân nhân của nhân loại đó!

-  Ngài quá khen ngợi! Nghệ thuật đối với tôi là một giải thoát, đồng thời để thay lời nói trình bày với Thiên Chúa.

Ba còn muốn nói chuyện nhiều với người nhạc trưởng, nhưng Dì nhắc:

-   Mời ông đi cho kịp phái đoàn…

Ba cúi chào người nhạc trưởng và hẹn sẽ có dịp trao đổi thư từ với ông.

Rời nhà giải trí, ba tới thăm nhà ăn tập thể. Cách bố trí trong phòng ăn tương tự như nhà ăn các tu viện, chỉ có một điều đặc biệt này Dì hướng dẫn nhắc lại điều ba đã nghe trong buổi thuyết trình: các bệnh nhân có sức ăn gấp hai hoặc hơn phần ăn của một người bình thường. 

Cách nhà ăn là một khu vườn trồng rất nhiều cây thuốc quý và cần thiết cho những bệnh thông thường, xen kẽ là những bồn trồng bông. Ngày ba tới thăm đúng vào lúc hoa nở rộ, màu sắc đủ loại trông rất đẹp mắt. Có cả loại hoa mà con ưng nhất, màu sắc và hình dáng không thua gì những cánh bông trồng trên Đà Lạt. Hơn nữa, Dì hướng dẫn còn cho ba biết giống hoa hồng này được nhập từ Pháp. Dì có tặng ba một số cành, hiện thời ba đang chăm sóc. Ba hy vọng ngày hồng phúc của con ba sẽ có bông tặng con…

Giữa khu vườn đó là nhà phát thuốc và điều trị. Vừa bước chân vào phòng, ba thấy bàng hoàng. Trước mắt ba một hình ảnh làm ba xúc động mạnh: các Dì phước đang cặm cụi làm việc, rửa ráy băng bó vết thương, chẩn mạch phát thuốc… Mặc dù có phái đoàn vào thăm, các Dì cũng chỉ đủ thời giờ ngước mắt lên cúi chào và mỉm cười một lát, rồi lại cặm cụi làm việc. Thấy cử chỉ và công việc của quý Dì, ba xúc động vô cùng. Tuổi đời của quý Dì đang tràn đầy sức sống, lại duyên dáng hấp dẫn…, thế mà các Dì đã sẵn sàng chôn vùi tuổi xuân: hy vọng, tương lai, tình yêu gia đình, quê hương (ở đây có rất nhiều Dì ngoại quốc) để phục vụ cho những con người xấu số nhất trần gian. Hình ảnh của quý Dì mà ba thấy đây quá đẹp, quá thiêng liêng, không bao giờ và không có gì tẩy mờ trong tâm trí ba được. Ba ước ao giả như hình ảnh này được nhiều người nhìn thấy cụ thể như ba hôm nay, nhất là những người ác cảm với đạo Chúa, chắc chắn họ sẽ phải suy nghĩ.

Giữa hình bóng các thiên thần, ba thấy hình ảnh này đúng cả về mặt tinh thần lẫn thực tế: các Dì phước, những vị thiên thần của Chúa nổi bật lên giữa những con người đau thương khốn khổ. Còn thực tế bộ áo dòng và tấm táp-pi trắng quý Dì bận, khác hẳn với bộ quần áo cũ kỹ và phai màu của đám bệnh nhân.

Còn các bệnh nhân từng cụm đang đứng hoặc ngồi chờ đợi đến lần mình. Phái đoàn tới thăm không làm cho họ xôn xao bao nhiêu: các bệnh nhân vẫn bình thản trố mắt theo dõi thái độ của phái đoàn, rồi thì thào trao đổi với nhau. Họ thật bình thản trong trật tự, hầu như họ đã quen thuộc với những lần thăm viếng và thái độ của khách tới viếng thăm. Có chăng là trao tặng họ chút tình thương bên ngoài…, còn giữa họ và khách đã có sẵn một vách ngăn không thể nào vượt qua được. Cũng có thể là các bệnh nhân đã chai lì trong đau đớn, họ chẳng còn trông mong hy vọng nên dửng dưng với mọi biến chuyển. Để kiểm tra lại nhận xét của mình, ba hỏi Dì hướng dẫn:

-   Mấy bệnh nhân này thường xuyên tới đây?

-  Coi như mọi người ở trong trại đều quen thuộc với nơi này.

-   Họ đến mỗi ngày hay sao?

-   Thường thì cách ngày, trừ trường hợp đặc biệt.

Rời khu tập thể, phái đoàn đến thăm khu cá thể, nghĩa là khu các bệnh nhân có hoàn cảnh ngoại lệ: bệnh nhân có gia đình hoặc có người nhà cùng thứ bệnh muốn sống riêng. Khu cá thể gồm những căn nhà nho nhỏ, xây cất chắc chắn, lợp tôn Phirô, có thể chịu đựng được với hoàn cảnh bờ biển. Các căn nhà nhỏ gần như giống nhau, cùng một kiến trúc, nằm ngay ngắn trong một vị trí đã được ban Giám Đốc trại ấn định. Nhà nào chung quanh cũng có một mảnh vườn nh để bệnh nhân có thể trồng cấy một hai thứ cây cần thiết theo sở thích. Nhiều tổ ấm có những bồn bông rất đẹp, đôi khi có cả những loại kiểng quý. Nhưng có một điều thắc mắc, ba hỏi Dì:

-   Những căn nhà nhỏ này ai xây cất?

Dì chỉ vào một miếng đất nhỏ không xa chỗ ba đứng bao nhiêu. Ở đó còn ngổn ngang gạch cát và khung cảnh chưa dựng. Dì trả lời:

-  Vật liệu xây cất thì trại cung cấp hoàn toàn, còn công xây cất thì gia đình bệnh nhân nào muốn sống riêng đóng góp phần chính. Ngoài ra, còn sự đóng góp của bệnh nhân bạn.

Trong số những tổ ấm nhỏ này, ba thấy có một gia đình đặc biệt: người đàn ông đã ngoài thất tuần và người đàn bà cũng đã ngoài sáu mươi. Cả hai ông bà đều bị bệnh trên ba chục năm rồi, và ngày lìa đời của ông bà cũng không còn bao xa vì hiện thời ông không còn khả năng đi lại được nữa. Ông nhìn ba như một người từ bên kia thế giới, ánh mắt mờ lệ và khắc khoải khiến ba mủi lòng. Ba hỏi Dì hướng dẫn:

-   Trường hợp của ông bà đây có gì đặc biệt không Dì?

-  Ông bà đây là bổn đạo mới. Điều đặc biệt ở ông là ông cứ thắc mắc: Tại sao người khác không bị, còn ông lại bị bạo bệnh như thế này? Gặp ai ông cũng đặt vấn nạn đó?

Ba mỉm cười cám ơn câu trả lời của Dì và góp ý với Dì về vấn nạn của ông g bị bệnh. Ba nói:

-  Vì Chúa muốn chọn ông bà làm ân nhân cho nhân loại!

Ra ngoài khu tư gia, phái đoàn được hướng dẫn đứng quan sát khu phát triển của trại, chiếm một khoảng rộng gấp hai lần khu tập trung, trong đó những bệnh nhân còn có sức trồng cấy cây lương thực, cây ăn trái và chăn nuôi gia súc, bò heo, gà… Nhờ vậy mà nền kinh tế trại đỡ một phần nào. Nhưng điều khó khăn hiện thời trại đang gặp là nạn thiếu lương thực trầm trọng.

Trở lại khu trung tâm, phái đoàn được hướng dẫn viếng thăm nơi ở và sinh hoạt của các Dì phước, rồi nhà của cha linh hướng. Tất cả đều đơn giản và sạch sẽ. Nhưng khi ba đặt chân vào những nơi này, ba nhận thấy một cảm giác thật khác thường. Bầu không khí ắng lặng làm ba thấy như bước vào một nơi linh thiêng, mà có lẽ không riêng mình ba có cảm giác ấy. Ba thấy hầu hết những nhân viên của phái đoàn đều có trạng thái đó, những lời ồn ào trao đổi tự nhiên bớt hẳn đi, trái lại con mắt làm việc nhiều hơn, nhất là khi ba được biết trong số mười mấy Dì phục vụ ở đây, quá một nửa là người ngoại quốc thuộc nhiều quốc tịch khác nhau, kể cả cha linh hướng cũng là người ngoại quốc, vốn trước đây người là giám đốc chủng viện.

Từ những hiểu biết đó đến cách sống đơn giản gần như khắc khổ của các vị tu hành ở đây làm cho ba càng kính trọng và cảm phục các ngài. Các ngài thật là những sứ giả tình thương của Thiên Chúa ban xuống cho nhân loại. Gương của các ngài đánh động ba hơn bất cứ một bài giảng hùng hồn nào về lòng bác ái Công giáo. Ba nhìn thấy đây không phải là những kẻ chán đời như một số người xuyên tạc chế nhạo; ngược lại, phải nói các ngài là tinh hoa của nhân loại, từ học thức đến duyên sắc, nhất là một số Dì phước tuổi xuân còn đang mơn mởn, duyên dáng như những bà tiên, thì ai mà có thể xuyên tạc được, nếu không phải vì một lý do duy nhất là tình yêu.

Cho mãi đến lúc ba quỳ cầu nguyện chung với cộng đồng trong nhà nguyện, nhà nguyện thường đặt Mình Thánh Chúa suốt ngày và lúc nào cũng có bệnh nhân đến chầu. Giờ ba vào viếng nhằm giờ chầu chung. Vì thời giờ có hạn nên ba không được ở lại lâu, nhưng qua ít phút nghe tiếng bệnh nhân cầu kinh và ca hát, ba phần nào hiểu được lý do làm cho các bệnh nhân kiên trì chịu đựng được với những cơn bạo bệnh dần mòn gặm nhấm thân thể, và sự hy sinh quảng đại của quý Cha, quý Dì.

Chết vì yêu”, mấy tiếng đó ba đọc thấy ngay dưới chân bàn thờ đặt Mình Thánh Chúa, làm ba xúc động vô cùng. Mấy tiếng đó vừa giúp ba hiểu vì yêu nhân loại tội lỗi Chúa đã sẵn sàng chấp nhận làm người để cứu cả nhân loại, trong đó có cả ba đây. Nó cũng giúp ba hiểu được điều ba đang thắc mắc: động lực nào đã thúc đẩy quý Cha, quý Dì chấp nhận hy sinh trọn đời mình ở nơi cùng cốc nguy hiểm tính mạng này. A! Tất cả chỉ vì yêu Chúa và yêu hình ảnh của Chúa qua những con người bệnh tật cùng cực này.

Cũng chính giờ phút này đây, ba hướng về con và ba thấy con thật là có lý khi con nhất quyết đòi ba đi tu. Ba tạ ơn Chúa đã không để ba cố chấp giữ con ở lại với ba và cầu xin Chúa cho con được trung thành với Chúa. Hết giờ chầu, ba lẩn thẩn ra cuối nhà thờ để nhìn chung ngôi nhà nguyện, là linh hồn của cả trại. Bỗng ba khám phá được một điều hết sức kỳ diệu: đó là ngôi mộ của Dì Antony Nhẫn.

Lúc vào nhà nguyện, ba từ nhà quý Dì vào cửa ngang nên ba không hay biết có ngôi mộ cuối nhà thờ. Do một sự tình cờ ba được biết, ba đã lại gần đọc từng dòng chữ ghi trên mộ, những dòng chữ quá vắn gọn này càng làm ba tò mò. Ba đã đi tìm Dì hướng dẫn để biết rõ thân thể và sự nghiệp của Dì Antony Nhẫn, một vị đại ân nhân, và theo ba - ba nhắc lại cho con - Dì Antony là một vị thánh.

     Tất cả những điều ba vừa thấy làm ba nhớ đến câu Thánh Thi trong ngày lễ kính Thánh Giá Chúa:

Cung trầm bổng dệt bài ca cầu nguyện

Con khấu đầu thượng tiến Chúa Ba Ngôi

Đã đổ hồng ân cứu chuộc loài người

Muôn muôn thuở, xin dâng lời vinh chúc.

Xem tiếp chương 5

Song Nguyễn