Trang chủ

Mục lục

Một Đời Dâng Hiến  

Tác giả: Song Nguyễn

 Tác phẩm của Tác giả Song Nguyễn
 

 CUỘC ĐỜI DÂNG HIẾN

Tác giả: Song Nguyễn

Chương 9

Người hiền mẫu

Với lứa tuổi của Dì Antony không dễ mấy ai có thể chiếm được tình cảm sâu rộng như Dì.  Trong trại, từ người già gần đất xa trời đến những em bé mới bập bẹ nói, thì tên của Dì Antony được bé bập bẹ nói cùng với tiếng ba má. Ny, Ny đó là tiếng thân mật các bé gọi Dì.

Dì Antony nhận được phần thưởng đó, Dì Lan nói tiếp: không phải vì lúc này Dì là người ân nhân độc nhất của trại, nhưng chính do cách đối xử đầy đức tin của Dì. Dì Antony coi các bệnh nhân như hình ảnh của Thiên Chúa hoặc như chính Chúa. Trong nhật ký Dì đã viết:

“… Lạy Chúa, Chúa đã chấp nhận hy tế của Con Chúa mà cứu nhân loại, thì xin Chúa ngày nay cũng nhận những hy tế của nhiệm thể Chúa mà cứu chúng con…”.

Dì Antony đã coi những đau khổ, bệnh tật của bệnh nhân trong trại là những hy tế giống như hy tế Đức Giêsu đã chịu, và những con người bệnh nhân là nhiệm thể của Chúa. Do đó, Dì đối xử với họ trong sự chăm sóc tận tụy và kính trọng đặc biệt. Nhiều bệnh nhân ngày nay kể lại cách đối xử của Dì Antony với họ trong thời gian ấy, họ vẫn còn bị xúc động không cầm nổi nước mắt, chẳng hạn như trường hợp con bé Mai Liên.

Gia đình em tốn không biết bao nhiêu công của mới đưa được em vào trại để nhờ giúp đỡ vì gia đình em rơi vào cảnh ngặt nghèo. Nhưng khi đến trại, được nhìn thấy cảnh tượng lở loét, cụt chân, cụt tay, sứt mũi, mắt mờ… bé đâm hoảng hốt. Mặc dù người mẹ đã hy sinh ở lại với con, nhưng bé cứ nằng nặc đòi về nhà chết. Thế mà đòi hỏi của bé thì không thể nào chiều được vì áp lực lối xóm không để yên cho bé ở nhà.

Trước hoàn cảnh khó khăn của mẹ con bé Mai Liên, Dì Antony đã can thiệp để cứu nguy.  Dì Antony đã dành nhiều thời giờ quý báu của Dì để chinh phục con bé Mai Liên. Qua bữa một, bữa hai, dần dần con bé Mai Liên đã bằng lòng ở lại trại và rồi bé còn chịu để bà mẹ về. Ngày mà bé tiễn mẹ ruột của bé về, bé nghẹn ngào nói với mẹ bé: “Con có má Ny rồi…”.

Nhận thêm một người nữa là Dì Antony gánh thêm mối lo lắng vất vả vào mình, vì gia đình vừa đông, ăn uống tốn kém, làm không ra, ăn xin cũng chẳng ai cho, lại thêm bệnh tật nan y, thuốc men hết sức hạn chế. Người phục dịch đếm trên đầu ngón tay, nhân viên xã hội có mấy người thì vừa đồng lương quá khiêm nhường và lại phục vụ trong một hoàn cảnh bi thảm, nên dần dần kẻ trước người sau rút lui hết. Trong bối cảnh này, Dì Antony như con lềnh đềnh rút ruột ra nuôi con khi ngặt nghèo không kiếm được mồi. Dù không rút ruột ra nuôi bệnh nhân, nhưng Dì Antony đã cống hiến trọn tinh thần và thân xác Dì cho bệnh nhân. Dì săn sóc mọi người và từng người, hầu như Dì biết rõ từng người ở trong trại, có thể nói còn rành hơn nhiều người mẹ trong gia đình đông con… Cứ vắng mặt bữa một, bữa hai không đến băng bó là Dì phải tìm cho ra lý do.  Biết được lý do hoặc là Dì xuống tận chỗ ở của bệnh nhân, hoặc là Dì phái người đến săn sóc đặc biệt, nhưng thường là Dì Antony đến tận nơi bệnh nhân.

Một hôm ông già Khang vớ được rượu ních vào nên say túy lúy quên cả phiên đi thay băng, nhưng không ai báo cho Dì. Các bệnh nhân biết Dì Antony rất ghét tật uống rượu say, ngược lại các bệnh nhân nam hễ có dịp là say. Lúc đầu người ta cũng tưởng ông già Khang say qua loa như mọi lần, ông mê mệt ít lâu rồi sẽ tỉnh lại. Không ngờ lần này ông li bì, lại ói tháo, ói thả ra, người ta đã nhắc cho ông phiên ông đi đổi băng, nhưng ông chẳng còn biết gì. Đến quá buổi rồi ông cũng chưa tỉnh lại. Vắng ông, Dì Antony mới tìm xuống chỗ ông cư trú và rồi Dì được chứng kiến một cảnh tượng bê bối: ông già Khang đang nằm mê mệt giữa những đống dơ do ông ói mửa ra. Dì Antony đứng nhìn ông, nét mặt Dì thay đổi, Dì không la mắng ông, trái lại Dì rưng rưng muốn ứa lệ. Dì biết rõ hơn ai hết vì sao mà ông già Khang rơi vào tình trạng này: thất vọng.

Với tuổi tác đã làm bạc trắng đầu ông, còn hai chân của ông đã bị trùng cùi ăn cụt nên đã nhiều lần ông muốn quyên sinh, nhưng ông đã được Dì Antony ngăn kịp. Lần ông định quyên sinh mới đây, khi Dì Antony biết được và ngăn cản ông, ông cứ nằng nặc năn nỉ với Dì để cho ông được tự tử, vì ông có sống cũng bằng thừa và còn báo hại cho xã hội nữa. Dì Antony đã giải thích và động viên ông để ông hiểu ý nghĩa đau khổ và giá trị cứu độ trong đau khổ của ông.  Ông đã hứa với Dì Antony bỏ ý định này, nhưng ông vẫn chưa bỏ tật uống rượu. Có điều mọi lần trước ông uống chút ít, lần này ông uống quá nhiều hẳn là có lý do gì nghiêm trọng.

Sau giây phút thương cảm, Dì Antony đã cố đưa ông ra khỏi cơn mê để một lần nữa đưa ông vào tham gia cuộc hy tế tập thể. Sau lần mê mệt để đời này, ông già Khang tuyên bố:

-  Chỉ có Dì Antony mới ngăn cản tôi được. Tôi nghe Dì còn hơn nghe lời mẹ tôi nữa…

Sau lần Dì Antony can thiệp để cứu ông già Khang, Dì đã ghi lại trong nhật ký của Dì:

“… Chúa thấy hoàn cảnh ông già Khang đáng thương đấy Chúa nhỉ? Nào là ông ta có bà vợ tàn tật như ông ta, đã ra đi trước ông ta, làm cho ông chẳng còn ai để an ủi tâm sự. Vợ ông qua đi, ông lủi thủi sống một mình trong túp nhà do vợ chồng ông và bệnh nhân lối xóm phụ cất cho ông. Có lẽ ngày ngày nhìn thấy cảnh heo hút ấy, cộng thêm nỗi thất vọng thấy đôi chân cứ mỗi ngày mòn dần, nhức nhối, đau đớn nên ông ta đâm thất vọng. Mấy lần ông toan tự tử, Chúa đã cho con can thiệp kịp. Lần tự tử sau ông ta đã hứa với con sẽ không tự tử nữa, nhưng ông ta lại uống rượu nhiều hơn. Hôm nay ông ta uống quá nhiều… Vậy Chúa sẽ làm gì cho ông ta? Chúa muốn con làm gì cho ông ta?”

Giữ ông già Khang kéo dài cuộc sống bệnh tật là Dì Antony không muốn bỏ qua một cuộc lễ hy tế quý giá. Dì viết tiếp:

“… thế giới rất cần những hy tế quý giá của bệnh nhân để giữ cho thế giới được tồn tại.  Thế mà ông già Khang lại muốn hủy hoại sự sống của ông ngoài ý Chúa thì có phải là một lãng phí tội lỗi không? Mất một hy tế của ông, thế giới thiệt mất một phần. Cho nên bằng mọi cách phải làm cho ông ý thức…”.

Giữ một người bệnh tật nhất là tật bệnh như ông già Khang, Dì Antony còn có một cái nhìn khác nữa: cái nhìn của một người mẹ. Dì đã viết trong tập suy niệm của Dì:

“… Như Têrêsa thơ ấu, con chọn hết. Con muốn giữ tất cả các bệnh nhân lại với con, cho dù họ có thế nào đi chăng nữa, con cũng không muốn bỏ ai…”.

Tâm tình đó quả thật như người mẹ. Bà mẹ sinh con ra cho dù đứa con của bà không được may mắn như con người ta thì bà vẫn không vì đó mà không thương con, nhất là đứa con bà sinh ra lại mang bệnh tật nữa thì bà càng thương hơn, săn sóc, lo lắng, chạy chữa cho con, và cả ngay khi nó bệnh tật bà cũng không muốn rời xa nó.

Cũng trong cái nhìn hiền mẫu đó, Dì Antony rất vui ngày nào có một đứa bé cất tiếng chào đời trong trại. Dì tranh đấu yêu cầu ban điều hành trại phải dành phần đặc biệt cho bà mẹ đứa trẻ. Còn phần riêng Dì cũng có những món quà đặc biệt cho cả mẹ lẫn con. Vui nhất nữa là ngày bé được nhập đạo. Một lần Dì viết:

“… Lần này là lần thứ bốn con đưa dẫn một vị thánh vào Giáo hội Chúa rồi đó. Trại chúng con tương đối ít người thánh đi vào Giáo Hội, nhưng lại nhiều đấng thánh đi về nước Chúa. Tuy nhiên ít vậy mới quý Chúa nhỉ?

Nhưng thêm một đứa trẻ con mừng đó, đồng thời con cũng thấy lo vì con có trách nhiệm phải giữ cho chúng mãi mãi được tâm hồn trong sáng. Công tác này vượt ngoài tầm sức con đó.  Chúa với con hợp đồng Chúa nhá!”

Và quả nhiên sau lần rửa tội cho trẻ nhỏ lần thứ tư này, chức vụ làm mẹ của Dì Antony bị thử thách nặng nề: đứa trẻ trước khi đưa đi rửa tội không có triệu chứng gì đáng ngại cả. Hơn nữa, ai nhìn thấy đứa trẻ cũng tấm tắc khen đứa trẻ bụ bẫm, khoẻ mạnh và cũng đều cho rằng trời thưởng công vợ chồng tàn tật. Nhưng sau hôm rửa tội được mấy bữa, đứa bé nổi cơn kinh dữ dội. Lần nào đứa bé cũng bị giật co dúm người lại, mặt mũi tím ngắt như bị cầm máu. Lúc đầu người ta cho là bé bị kinh phong thường, nhưng rồi càng lúc chứng kinh phong tăng phần dữ dội, người ta bắt đầu bàn tán.

Ngay từ lúc cơn đau của bé xuất hiện, Dì Antony, người mẹ tinh thần của bé đã có mặt. Dì lo lắng săn sóc tận tình. Phương tiện có gì thì Dì đã sử dụng tận tình và có thể nói nó vượt quá sức Dì để lo cho bé, nhưng bệnh của bé không giảm lại mà có phần gia tăng. Khi bệnh kinh phong của bé gia tăng và dư luận xấu xen vào đồn đại quỷ nhập vào đứa bé… Dư luận độc hại đó gặp ngay được cơ hội tốt: đó là lòng tin yếu kém của bệnh nhân, nên gây tác hại về những chuyện mê tín dị đoan, thần thánh, ma quỷ… Thế là chỉ mấy bữa trong trại đồn ầm lên có ma nhập.

Dì Antony phải cố trấn át dư luận, nếu không sẽ ảnh hưởng nguy hại đến tinh thần bệnh nhân. Thế nhưng muốn trấn át được dư luận thì phải cứu đứa bé khỏi bệnh, một việc làm vượt khả năng của Dì. Dì tâm sự với Chúa, Dì viết:

“… Chúa thấy rõ ảnh hưởng tai hại việc đứa bé bị đau rồi đó! Đứa bé vô tội, mỗi lần cơn đau ập đến, nó quằn quại như chết. Cha nó và nhất là mẹ nó cũng khốn khổ chẳng kém gì nó.  Còn dư luận bên ngoài thì đồn đại ma nhập, quỷ hằn… Con không xin Chúa cất nó đi, vì đôi vợ chồng bệnh tật này chỉ có mình nó là nguồn an ủi của họ. Con cũng không xin Chúa chữa nó khỏi ngay, vì như vậy các bệnh nhân vẫn cho rằng đứa bé bị ma nhập, và bây giờ Chúa đuổi ma ra. Nhưng con xin Chúa, vì không có việc gì mà Chúa chẳng làm được. Chúa giúp con tìm được phương thuốc để con chứng minh cho cha mẹ  nó và nhũng người chung quanh thấy rằng nó bị bệnh…

Nhưng lời cầu của Dì Antony còn gặp nhiều thử thách, mấy ngày sau Dì viết tiếp:

“… Lạy Chúa, Chúa thử con và Chúa biết con… Cứ như mấy hôm nay con tưởng Chúa đã từ chối lời cầu xin của con: đứa bé cứ mỗi ngày một trầm trọng hơn, nó làm những cử chỉ trợn mắt, khua chân múa tay như người lớn, làm cho bọn người yếu đức tin càng lên nước. Con cũng buồn, nhưng con nhất định tin vào Chúa là Đấng toàn năng. Người ta càng hối thúc, càng đưa những tin kinh đảm về đứa nhỏ, con càng vững tin vào Chúa. Con vẫn thử nghiệm các phương tiện Chúa còn cho con có. Và quả thật, dư luận đã bị thua, phương thuốc dân tộc tầm thường con cho đứa bé uống đã có công hiệu. Đứa bé đã bớt kinh phong và hôm nay nó đã đòi bú… Con ẵm nó trong tay và con phải khóc lên vì sung sướng”.

Đang khi Dì Antony dồn nỗ lực vào chữa chạy cho đứa bé - một phần Dì thương đứa bé đó cũng như mọi đứa bé trong trại. Các chúng luôn luôn chiếm một chỗ ưu đãi trong tình cảm của Dì, nhưng với tính cách đặc biệt Dì phải lo cho đứa bé này hơn mọi đứa bé khác. Giữa lúc đó Dì Antony còn phải lo săn sóc đặc biệt cho ông già Khang. Từ bữa ông già quá chén đến nay, ông không trỗi dậy nổi nữa. Vì tuổi già sức yếu lại bị ma men nhập vào hoành hành quá độ, ông không đủ sức chống đỡ, rồi lại bị gió độc nhập nhiễm, nên ông phải nằm một chỗ. Trước tình cảnh bi đát đó, ông càng trở nên thất vọng, ông khó tính khó nết, cau có la lối những người có lời không đẹp với ông và cả những người săn sóc ông nữa. Vì vậy Dì Antony phải dành nhiều giờ để săn sóc ông và nhất là để ông đỡ thất vọng.

Dì Antony lo lắng cho ông già Khang, đã vậy Dì còn vận động ban điều hành tiếp tay với Dì an ủi giúp đỡ ông. Thầy Sáu chích cũng là một người tận tình săn sóc ông già Khang. Ngoài những công tác cần thiết, thầy Sáu dành cho ông già nhiều giờ để nghe ông kể lể và vỗ về ông. Nhưng cho dù Dì Antony có cố gắng hết sức và có vận dụng đến sự trợ giúp của mọi người, cũng không thể giữ mãi một người đã đến giờ Chúa gọi. Ông già Khang vào số đó. Ông đã ra đi một cách êm ái, bình an. Nhưng trước cái chết nhẹ nhàng đó lại làm Dì Antony xúc động, Dì ứa nước mắt nhìn ông trút hơi thở cuối cùng và rồi chính Dì khép mắt lại cho ông. Dì tâm sự với Chúa, Dì viết:

“… Một hy tế Chúa đưa vào thế gian nay hơn bảy chục năm. Chúa đã vun trồng chăm sóc cho cây lớn lên gần bốn mươi năm rồi, Chúa bắt đầu thực hiện chương trình của Chúa. Cuộc đời hy tế tích cực của ông già Khang hơn ba mươi năm nay hẳn Chúa đã thấy. Có thể những ngày cuối đời ông có những điều lầm lỗi, nhưng Chúa biết ông chỉ là người. Dù vậy mấy ngày cuối cùng ông đã thay đổi hẳn và còn tỏ ra can đảm lạ lùng chịu đựng cơn đau đớn.

Chúng con hy sinh mất một người, nhưng chúng con đã dâng cho Chúa một hy tế trọn vẹn. Xin Chúa nhận lấy hy tế chúng con dâng. Chúa thương linh hồn Rôcô và thương cả chúng con nữa nhá…”.

Đám tang của ông già Khang mặc dù đơn giản như mọi cái chết rất âm thầm trong trại cùi này, nhưng những lời Dì Antony nhắn gửi ông, khiến những người dự đám tang không ai cầm nước mắt được. Một số đông những người chứng kiến lễ tiễn đưa ông già Khang lúc đó, ngày nay khi kể lại mà vẫn còn xúc động. Họ kể:

“Những lời Dì Antony giã từ những người ra đi, nhất là trong cuộc lễ ông già Khang, như là những lời Dì dành cho những người thân thích, quý trọng nhất của Dì. Dì nức nở nghẹn ngào nhưng lại đầy đức tin. Mỗi bài tiễn đưa người chết là một bài suy niệm và là một dịp quý giá để mọi bệnh nhân nhẫn nại chịu đựng bệnh tật và đoàn kết thương yêu nhau”.

Một nhân chứng khác thì nói những lời của Dì Antony có tác động thay đổi lòng người thật.  Người ấy thuật lại:

“Cũng vì tuổi già và bệnh tật, ông già Khang la mắng nguyền rủa những người chung quanh, nhiều khi oan uổng không có lý do. Một trong những người bị ông xỉ vả là ông Yên. Ông Yên một hôm đến thăm viếng an ủi ông già Khang. Ông Yên vừa bước vào nhà chưa nói hết lời chào thăm đã bị ông già Khang xừng xộ la mắng lại, còn đào bới quá khứ, rỉa róc ông nữa. Ông Yên vừa phần oan uổng, phần bị bới móc mất mặt nên ăn thua với ông già Khang. Rồi khi bị can ngăn, ông thề độc trở về nhà và không bao giờ ngó ngàng gì đến ông Khang, ngay cả khi hay tin ông già Khang chết, ông Yên cũng không tha tội và vẫn nguyền rủa bới móc ông. Nhưng đến khi người ta thuật lại cách xử thế và những lời Dì Antony giã từ ông già Khang, đã làm cho ông Yên động lòng”. 

Người thuật tiếp: “Nghe chưa hết câu chuyện, ông Yên đứng dậy và tuyên bố: ‘Thôi đủ rồi’. Rồi ông chạy đi tìm Dì Antony và trình bày với Dì câu chuyện bất thuận giữa ông và ông già Khang. Chính Dì Antony trong vụ này, Dì cũng ghi lại mấy dòng tâm sự với Chúa:

“… Hẳn là Chúa vui nhá! Một người đang thù ghét Chúa vì tự ái đã trở về làm hoà với Chúa. A! nhưng Chúa phải cho con một ơn gì để thưởng công cho con…”.

Và có lẽ Chúa đã thưởng công cho Dì Antony thật. Dì Lan thuật tiếp: Ít lâu sau cái tang ông già Khang và cuộc hoà giải của ông Yên, Dì Antony và ban quản trị giải quyết một cuộc tình cho một đôi trai gái yêu nhau.

Lý A Thông và Đoàn Tường Vy, cả hai đều còn trẻ và cùng bị bệnh cấp I. Trong cùng một rủi ro, chúng có nhiều dịp gặp nhau, tâm sự với nhau và đi đến chỗ thương nhau. Gia đình chúng cũng chấp thuận, nhưng để tùy ban điều hành trại, mà trên hết là sự quyết định của Dì Antony.  Phần Dì Antony quyết định lại thật đơn giản. Mặc dù Dì đã nghe biết mối tình của đôi trẻ này cũng như hầu hết các trường hợp khác, nhưng Dì cũng dò hỏi thật cặn kẽ lại quyết tâm của đôi trẻ. Rồi khi đã có đủ các yếu tố, các điều chúng hiểu biết và quyết tâm, Dì Antony cho ban điều hành biết ý định của Dì, đồng thời xúc tiến nhiệm vụ của Dì là dạy cho đôi trẻ rõ những đòi hỏi của luật Chúa và Giáo Hội về đời sống gia đình…

Sau những ngày chuẩn bị tinh thần và vật chất lễ cưới Thông Vy, dù đơn giản nhưng rất trang trọng và cảm động. Những người có mặt trong buổi lễ không ai mà cầm lòng được và chắc chắn không bao giờ quên được. Dì Antony đại diện Giáo Hội nhận lời thề hứa của đôi trẻ, những lời Dì nhắn nhủ đôi trẻ thực là những lời tâm huyết rút ra từ tim óc của Dì gửi đôi trẻ và cũng tỏ rõ Dì có một nền tảng vững chắc về giáo lý hôn nhân. Ngay trong cuốn nhật ký Dì cũng còn ghi lại tâm tình xúc động của Dì trong dịp lễ cưới này:

“… Vui quá Chúa nhỉ! Một đôi trai gái yêu nhau, yêu nhau thắm thiết, yêu nhau mặn nồng!  Nhưng Chúa có biết tại sao các chúng lại yêu nhau khắng khít đến như vậy không? Tại Chúa đó!  Chúa là Tình Yêu mà! Thánh Gioan, người yêu của Chúa nói vậy đó! Chúa đã phân phát tình yêu của Chúa cho mọi loài, đặc biệt cho loài người. Và hơn hết cho lớp trẻ đang lớn, đặc biệt cho đôi trai gái này, có phải vậy không Chúa nhỉ? Bệnh tật nan y đã đem đến cho họ nỗi thất vọng, cùng cực, hầu như mọi người bỏ rơi họ, xa tránh họ, may mà họ chưa tự tử vì họ còn chút đức tin.  Nhưng hôm nay họ đã tìm được ý nghĩa cuộc sống khi họ biết vẫn còn có những người yêu họ, yêu thắm thiết đặm đà, sẵn sàng chia sẻ cuộc sống với nhau, cho dù tương lai vẫn còn đen tối.  Hơn nữa qua họ, nhiều ngừơi cũng được sưởi ấm cuộc đời”.

Dì Antony viết tiếp:

“Buổi sáng sau cuộc lễ tuyên thệ của đôi trai gái, một thiếu nữ đến tâm sự với con: Sơ ơi! Cô ấy nói với con trong dáng điệu hết sức cảm động gần như muốn khóc. Con được an ủi quá Sơ ơi! Chúa là tình yêu, như vậy hễ con có Chúa là có tình yêu, mà có tình yêu thì đâu con còn cô đơn, còn thất vọng. Thế mà từ lâu, con không tìm ra chân lý ấy, uổng quá? Người con gái ấy ngẩn người ra có vẻ tiếc xót. Con đã an ủi người ấy: Ồ có sao đâu! Trước con chưa biết, bây giờ con biết, con cố sống vui tươi phó thác vào Chúa”.

Người con gái ấy lại reo lên:

-  A! Phải rồi thảo nào con thấy các người đi tu lúc nào cũng vui tươi được. Người con gái ấy tâm sự: Lúc đầu khi nhìn thấy người đi tu, chúng con chưa có dịp tiếp xúc với người đi tu, con cứ tưởng họ vui tươi vì họ sống nhàn nhã, sung sướng nên họ trẻ lâu và yêu đời. Nhưng đến khi con được tiếp xúc với các người đi tu và đặc biệt được sống bên cạnh người đi tu như sơ đây, con thấy Dì vất vả, mệt nhọc, lo lắng hơn bất cứ người nào thế gian, thế mà không ai vui tươi, niềm nở như Dì. Ngưng một lát, người con gái ấy nói tiếp:

-  Giả như Dì có bị bệnh như con, như những người trong trại này, chắc chắn Dì cũng sống vui tươi phó thác, và vì vậy từ nay con nhất định không buồn nữa.

-  Đó Chúa thấy không? Như vậy Chúa được lời nhiều lắm rồi đó nhá! Xin Chúa cho đôi trai gái mới cưới hôm nay được tìm thấy hạnh phúc thật trong tình yêu của Chúa.

Và để đánh dấu ngày đáng ghi nhớ này, Dì Antony đã đề nghị với ban điều hành tăng cường bữa ăn trưa đặc biệt hơn, đồng thời cũng sắm sửa cho đôi trẻ một số đồ cần thiết cho một tổ ấm. Hiện đôi vợ chồng này vẫn còn sống và khi nhắc lại cái kỷ niệm đáng ghi nhớ này, họ vẫn còn nghẹn ngào khi nhớ đến Dì Antony, một người mẹ thật chu đáo, một người đại ân nhân đã xây dựng hạnh phúc cho đời họ.

Dì Lan tóm kết thái độ hiền mẫu của Dì Antony. Dì nói: chính Dì Antony đã cảm nghiệm được tình Chúa đối với Dì. Thánh vịnh mà Dì ưa nhắc lại nhiều lần trong tập nhật ký của Dì có thể cho ta kết luận đó:

Lòng con chẳng dám tự cao

Mắt con chẳng dám tự hào Chúa ơi!

Đường cao vọng chẳng đời nào bước

Việc diệu kỳ vượt sức chẳng cầu

Hồn con, con giữ trước sau

An hoà thinh lặng là câu thanh bình

Bé no sữa nép mình lòng mẹ

Ấy hồn con lặng lẽ an vui

Cậy vào Chúa Ích Diên ơi

Bây giờ đến mãi muôn đời muôn năm (Tv 130).

Xem tiếp chương 10

Song Nguyễn